1. Ẩn dụ là gì?

Ẩn dụ là một biện pháp tu từ trong đó người nói hoặc người viết gọi tên một sự vật, hiện tượng này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng nào đó giữa chúng (chẳng hạn về hình dáng, màu sắc, tính chất, trạng thái hay cảm xúc). Nhờ đó, ẩn dụ tạo ra sự liên tưởng phong phú, giúp cách diễn đạt trở nên gợi hình, gợi cảm, làm cho người đọc, người nghe cảm nhận đối tượng một cách sinh động, tinh tế và sâu sắc hơn.

Phạm trù ẩn dụ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trong một truyền thống lâu đời. Đã có rất nhiều định nghĩa về nó, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn và góc độ nghiên cứu khác nhau. Hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, ẩn dụ là biện pháp tu từ dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để chỉ sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng giữa hai đối tượng về một phương diện nhất định (ví dụ: tính chất, trạng thái, màu sắc, …).

Theo Đinh Trọng Lạc trong 99 Phương tiện và Biện pháp tu từ tiếng Việt (1994), ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A. Nói cách khác, về bản chất, ẩn dụ chính là một so sánh ngầm: vế A (sự vật, hiện tượng được so sánh) và từ so sánh thường bị ẩn đi, chỉ còn lại vế B (sự vật, hiện tượng được dùng để so sánh) bộc lộ ra, trở thành phương tiện biểu thị.

Tóm lại, ẩn dụ là một biện pháp tu từ được nghiên cứu từ rất sớm và được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ nói chung cũng như văn học nói riêng. Với bản chất giàu tính hình tượng và hàm súc, ẩn dụ khiến cho ngôn ngữ trở nên bóng bẩy, trau chuốt, đa nghĩa, đồng thời mở ra những tầng cảm xúc và ý nghĩa tinh tế, đẹp và gợi cảm.

 

2. Bốn hình thức ẩn dụ thường gặp

Trong tiếng Việt, ẩn dụ thường được chia thành 4 hình thức cơ bản, tùy theo phương diện tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng:

  • Ẩn dụ hình thức → dựa trên sự tương đồng về hình thức (hình dáng, cấu tạo, đặc điểm bên ngoài).
  • Ẩn dụ cách thức → dựa trên sự tương đồng về cách thức, phương thức hoạt động, vận động hay diễn ra.
  • Ẩn dụ phẩm chất → dựa trên sự tương đồng về tính chất, phẩm chất, đặc điểm bên trong.
  • Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác → dựa trên sự chuyển đổi cảm giác giữa các giác quan (ví dụ: từ thị giác sang thính giác, từ vị giác sang xúc giác...).

Mỗi hình thức ẩn dụ sẽ mang lại một hàm ý và cách diễn đạt riêng, góp phần làm ngôn ngữ thêm sinh động, giàu sức gợi hình và gợi cảm. Phần tiếp theo đây, Luật Minh Khuê sẽ làm rõ về các hình thức ẩn dụ thường gặp trên, đồng thời đưa ra các ví dụ cụ thể cho từng hình thức.

 

Ẩn dụ hình thức

Ẩn dụ hình thức là kiểu ẩn dụ mà người nói hay người viết dựa trên điểm tương đồng của hai sự vật, hiện tượng để tạo hình ảnh ẩn dụ, tuy nhiên trong câu văn, câu thơ lại bị ẩn đi một phần ý nghĩa. Nói chung, có thể coi đây là hình thức chuyển đổi tên gọi dựa trên cơ sở hai sự vật, hiện tượng có sự giống nhau về hình thức hoặc một đặc điểm hình thức.

Đặc điểm:

  • Dựa trên tương đồng về hình thức.
  • Trong lời nói, câu văn hoặc câu thơ, một phần ý nghĩa bị ẩn đi, chỉ còn hình thức gợi liên tưởng.

Ví dụ về ẩn dụ hình thức: 

Trong tác phẩm Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du có hai câu thơ:

"Dưới trăng quyên đã gọi hè

Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông"

Ở đây, "lửa lựu" được tác giả sử dụng là hình ảnh ẩn dụ, dùng để diễn đạt cho ý nghĩa rằng "hoa lựu đỏ như màu ngọn lửa".

Hay trong hai câu thơ này:

"Về thăm quê Bác làng Sen

Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng"

Ở đây, phép ẩn dụ được sử dụng là phép ẩn dụ hình thức, theo đó sự tương đồng là "màu hồng của lửa" với "màu đỏ của hoa râm bụt".

Trong ca dao:

Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

Hình thức "tấm lụa đào" gợi sự mảnh mai, mềm mại, đồng thời ẩn dụ cho thân phận người con gái.

 

Ẩn dụ cách thức

Ẩn dụ cách thức là hình thức ẩn dụ giúp người nói hay người viết đa dạng hóa cách diễn đạt và diễn đạt một cách có hàm ý về một vấn đề nào đó. Có thể coi đây là phương thức chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai sự việc.

 

Ví dụ về ẩn dụ cách thức: Trong câu tục ngữ quen thuộc "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây".

Ở đây, ẩn dụ được thể hiện trong sự tương đồng về cách thức là "ăn quả" tương đồng với "hưởng thành quả lao động", còn "trồng cây" tương đồng với "công lao của người tạo ra thành quả".

 

Ẩn dụ phẩm chất

Ẩn dụ phẩm chất là ẩn dụ dựa trên nét tương đồng về phẩm chất, đặc điểm, đặc tính để thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện tượng khác. 

Ví dụ về ẩn dụ phẩm chất: Trong hai câu thơ của nhà thơ Minh Huệ dưới đây:

"Người Cha mái tóc bạc

Đốt lửa cho anh nằm"

Ở đây, có thể thấy tác giả đã sử dụng thành công phép ẩn dụ đặc sắc. Sự tương đồng được thể hiện rõ khi hình ảnh "người Cha" được dùng để chỉ Bác Hồ. Bởi vì giữa người cha và Bác Hồ có nét tương đồng về phẩm chất, đó là tình yêu thương, sự chăm sóc chu đáo, ân cần của Bác đối với các chiến sĩ. Điều này đã được thể hiện cụ thể qua hành động "đốt lửa". Bên cạnh đó, hình ảnh ẩn dụ còn xóa nhòa khoảng cách giữa vị lãnh tụ vĩ đại với nhân dân, giúp chúng ta hiểu được tình cảm nâng niu, trân trọng, ngưỡng mộ của tác giả dành cho Bác Hồ - Người cha già kính yêu của dân tộc.

 

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là hình thức ẩn dụ miêu tả đặc tính của sự vật, hiện tượng được nhận biết rằng giác quan này nhưng lại dùng từ ngữ cho giác quan khác để cảm nhận sự vật.

Ví dụ về ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Trong câu nói "Trời hôm nay nắng giòn tan". Có thể thấy, đây là câu nói sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Theo đó, thay vì sử dụng giác quan thị giác (mắt) để cảm nhận thì khi miêu tả trời nắng lại sử dụng từ "giòn tan", là từ phải sử dụng vị giác. Mục đích của ẩn dụ ở đây là miêu tả cảm giác nắng rất lớn, có thể làm khô mọi vật. 

 

3. Chức năng của ẩn dụ

Chức năng biểu cảm

Có thể nói rằng, ẩn dụ nổi bật ở tính biểu cảm. Qua biện pháp tu từ ẩn dụ, người nói hay người viết bộc lộ tình cảm, cảm xúc, thái độ đối với đối tượng được thể hiện một cách kín đáo, tế nhị và sâu sắc. Trong thực tế sử dụng ngôn từ, những ẩn dụ mang tính tích đẹp đẽ để thể hiện tình cảm yêu mến, thái độ ca ngợi của người sử dụng. Hay ngược lại, để thể hiện sự căm ghét, phê phán, người nói hay người viết sẽ sử dụng các ẩn dụ tu từ mang tính tiêu cực, xấu xa, thậm chí là thấp hèn.

 

Chức năng tạo dựng hình ảnh

Biện pháp ẩn dụ tu từ bên cạnh chức năng biểu đạt cảm xúc, còn có tác dụng tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, hoa mĩ. Qua đó gợi lên những cảm giác lạ lùng và thú vị.

 

Chức năng thẩm mĩ

Việc sử dụng biện pháp ẩn dụ trên thực tế có giá trị thẩm mĩ rất cao, tạo nên vẻ đẹp của ngôn từ, nên qua đó cũng thể hiện tài năng của người sử dụng. Bởi lẽ, ẩn dụ tu từ đã sử dụng những hình ảnh đẹp, bóng bảy, đầy sức hấp dẫn, lôi cuốn, ... Điều này đã đánh thức trong lòng, trong tâm trí người nghe và người đọc những cảm quan nghệ thuật hằng ấp ủ bấy lâu.

Chức năng nhận thức

Có thể nói, biện pháp ẩn dụ đã thể hiện được nhạn thức rất phong phú, sâu rộng, chính xác của người nói hay người viết về các sự vật, hiện tượng cũng như mối quan hệ giữa chúng. Đồng thời, ẩn dụ còn làm phong phú thêm và góp phần phát triển tư duy, nhận thức cho chính người nghe, người đọc. Ẩn dụ đã mở ra khả năng vô tận cho việc nhìn ra những nét tương đồng của các sự vật, hiện tượng khác nhau trong thế giới này.

 

4. Một số bài tập về biện pháp tu từ ẩn dụ cho học sinh luyện tập

Bài tập 1. Xác định phép ẩn dụ trong các câu sau và chỉ rõ kiểu ẩn dụ:

1. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng. Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

2. Dòng sông quê hương là mái tóc của mẹ.

3. Tiếng chim kêu sáng cả rừng.

4. Trong lớp tôi có một chú vẹt.

5. Cơn giận của anh ấy bùng lên như ngọn lửa.

Yêu cầu học sinh:

  • Chỉ ra từ hoặc cụm từ chứa phép ẩn dụ.
  • Phân loại theo 4 kiểu: hình thức, cách thức, phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.
  • Giải thích mối liên tưởng tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng.

Bài tập 2. Phân tích tác dụng của phép ẩn dụ trong các đoạn thơ sau:

a.

“Quê hương là chùm khế ngọt,
Cho con trèo hái mỗi ngày.”
(Đỗ Trung Quân)

b.

“Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.”
(Hoàng Trung Thông)

c.

“Người mẹ cầm tay con, dắt qua ngọn gió.”

Gợi ý hướng dẫn:

  • Xác định hình ảnh ẩn dụ được sử dụng.
  • Chỉ ra cơ sở tương đồng (Miền nguồn – Miền đích).
  • Giải thích ý nghĩa biểu cảm (ẩn dụ muốn khẳng định điều gì, thể hiện tình cảm gì).

Bài tập 3. Phân tích sự khác nhau giữa hai cách diễn đạt sau:

1. “Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi,
Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng.” (Nguyễn Khoa Điềm)

2. “Em như mặt trời rực rỡ giữa mùa xuân.”

Câu hỏi gợi mở:

  • Câu nào là ẩn dụ, câu nào là so sánh trực tiếp?
  • Dấu hiệu nhận biết khác nhau ở đâu?
  • Cách diễn đạt nào mang lại hiệu quả biểu cảm sâu sắc hơn và vì sao?

Bài tập 4. Hãy chuyển các câu có phép so sánh sau thành câu có phép ẩn dụ:

1. Em dịu dàng như dòng suối.

2. Anh dũng cảm như con hổ.

3. Thầy giáo là ngọn đuốc soi đường cho chúng em.

Gợi ý:

  • Lược bỏ từ so sánh (“như”, “là”) và giữ nguyên cấu trúc nghĩa.
  • Giải thích cách thay đổi làm tăng tính biểu cảm của câu văn.

Bài tập 5. Viết 3 câu có sử dụng ẩn dụ để:
a. Miêu tả một người thân mà em yêu quý.
b. Diễn tả cảm xúc của em trong một ngày đặc biệt.
c. Nói về quê hương hoặc mái trường.

Ví dụ gợi ý:

  • “Mẹ là ngọn hải đăng giữa biển đời giông bão.”
  • “Tuổi thơ em là cánh diều lộng gió.”
  • “Ngôi trường là khu vườn xanh ươm mầm tri thức.”