Căn cứ pháp lý

Bộ luật dân sự năm 2015

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Mới đây, câu chuyện bé trai 7 tuổi bị chính bà ngoại từ chối, không cho nhập hộ khẩu sau khi mẹ bé qua đời khiến dân mạng xôn xao bàn tán. Được biết, vụ việc này xảy ra ở huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, cháu bé mồ côi mẹ và không rõ thân nhân người bố. Bé trai sau khi bị bỏ lại ủy ban và được cán bộ xã, công an đưa về nhà bà ngoại thế nhưng bà ngoại vẫn nhất quyết từ chối không nhận, liên tục đẩy cháu bé lên ngồi lại trên xe của công an và lớn tiếng chửi bới. Vậy giải quyết như thế nào về sự việc này.

1. Quy định về người giám hộ cháu bé

Bộ luật Dân sự năm 2015

Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật này được xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

 Như vậy, pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta thừa nhận quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu của ông bà ở hàng thứ ba và có thể phát sinh trong các trường hợp sau:

Một là, khi cha mẹ của cháu không còn và cháu không thể nhận được sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ anh, chị, em (do không có anh, chị, em; anh, chị, em đều là người chưa thành niên hoặc đã thành niên, nhưng họ không có khả năng thực hiện nghĩa vụ);

Hai là, khi cha mẹ của cháu không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con (do cha, mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên hoặc do cha mẹ không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con) mà cháu không có anh, chị, em chăm sóc, nuôi dưỡng; không phụ thuộc vào việc cha mẹ của cháu có hay không có quan hệ hôn nhân; quan hệ cha mẹ của cháu còn tồn tại hay đã chấm dứt, nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu của ông bà có thể được xác định vì lợi ích hợp pháp và chính đáng của cháu.

Trong trường hợp này bà ngoại của cháu bé là người duy nhất có trách nhiệm phải chăm sóc nuôi dưỡng cháu bé và đại diện cho cháu bé đến năm 18 tuổi bởi lẽ mẹ cháu đã mất, không xác định được bố cháu nên không xác định được ông bà nội, cháu cũng là con một nên bà ngoại là người dám hộ cho cháu bé là điều đương nhiên. 

2. Nghĩa vụ chăm sóc cháu bé

Trong tình huống này, bà ngoại cháu bé có nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng đồng thời có nghĩa vụ phải đăng ký thường trú cho cháu bé vào nơi cư trú của bà ngoại theo quy định của luật cư trú.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có những quy định cụ thể về trách nhiệm của ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cụ thể như sau:

Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định quyền và nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại đối với cháu như sau: Trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng một cách rất cụ thể.

Theo đó, giữa ông bà ngoại, ông bà nội và cháu tồn tại nghĩa vụ cấp dưỡng. Nghĩa vụ này không được chuyển giao và không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà không sống chung với cháu theo Điều 113 Luật hôn nhân và gia đình 2014 phát sinh trong hai trường hợp:

- Cháu chưa thành niên.

- Cháu đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật này.

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì chính quyền địa phương sẽ yêu cầu bà ngoại của cháu bé phải thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trong trường hợp bà ngoại từ chối nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng thì có thể phải chịu chế tài của pháp luật, đồng thời cơ quan chức năng có thể cử người giám hộ hoặc đưa cháu vào cơ sở nuôi dưỡng. 

Trường hợp bà ngoại không đủ điều kiện để nuôi dưỡng do sức khỏe hoặc điều kiện kinh tế thì khi đó các tổ chức xã hội mới can thiệp, hỗ trợ cháu bé theo các quy định về bảo trợ xã hội

3. Nơi cứ trú của cháu bé

Điều 12 Luật Cư trú năm 2020 quy định Nơi cư trú của người chưa thành niên

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống; trường hợp không xác định được nơi thường xuyên chung sống thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi do cha, mẹ thỏa thuận; trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được thì nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định.

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác, với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Điều 13 Luật cư trú năm 2020 quy định về nơi cư trú của người được giám hộ

1. Nơi cư trú của người được giám hộ là nơi cư trú của người giám hộ.

2. Người được giám hộ có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy về nơi cư trú của cháu bé thì sẽ thực hiện theo quy định của luật cư trú. Cụ thể, người nào có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé thì có trách nhiệm phải đăng ký thường trú cho cháu bé về địa chỉ đó. Nơi cư trú của cháu bé là nơi sinh sống thường xuyên với người có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cháu bé. Bởi vậy trong tình huống này, bà ngoại cháu bé có nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng đồng thời có nghĩa vụ phải đăng ký thường trú cho cháu bé vào nơi cư trú của bà ngoại theo quy định của luật cư trú.

4. Điều kiện đăng kí thường trú

 

Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú
1. Công dân có chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của mình thì được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp đó.
2. Công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó đồng ý trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;
b) Người cao tuổi về ở với anh ruột, chị ruột, em ruột, cháu ruột; người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không có khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột, người giám hộ;
c) Người chưa thành niên được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hoặc không còn cha, mẹ về ở với cụ nội, cụ ngoại, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; người chưa thành niên về ở với người giám hộ.
3. Trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, công dân được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Được chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý cho đăng ký thường trú tại địa điểm thuê, mượn, ở nhờ và được chủ hộ đồng ý nếu đăng ký thường trú vào cùng hộ gia đình đó;
b) Bảo đảm điều kiện về diện tích nhà ở tối thiểu do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không thấp hơn 08 m2 sàn/người.
4. Công dân được đăng ký thường trú tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo có công trình phụ trợ là nhà ở khi thuộc một trong các trường hợp sau đây
a) Người hoạt động tôn giáo được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển đến hoạt động tôn giáo tại cơ sở tôn giáo;
b) Người đại diện cơ sở tín ngưỡng;
c) Người được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đồng ý cho đăng ký thường trú để trực tiếp quản lý, tổ chức hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng;
d) Trẻ em, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng, người không nơi nương tựa được người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, người đứng đầu hoặc người đại diện cơ sở tôn giáo đồng ý cho đăng ký thường trú.
5. Người được chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp được đăng ký thường trú tại cơ sở trợ giúp xã hội khi được người đứng đầu cơ sở đó đồng ý hoặc được đăng ký thường trú vào hộ gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng khi được chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đồng ý.
6. Người sinh sống, người làm nghề lưu động trên phương tiện được đăng ký thường trú tại phương tiện đó khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là chủ phương tiện hoặc được chủ phương tiện đó đồng ý cho đăng ký thường trú;
b) Phương tiện được đăng ký, đăng kiểm theo quy định của pháp luật; trường hợp phương tiện không thuộc đối tượng phải đăng ký, đăng kiểm thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phương tiện thường xuyên đậu, đỗ về việc sử dụng phương tiện đó vào mục đích để ở;
c) Có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc phương tiện đã đăng ký đậu, đỗ thường xuyên trên địa bàn trong trường hợp phương tiện không phải đăng ký hoặc nơi đăng ký phương tiện không trùng với nơi thường xuyên đậu, đỗ.
7. Việc đăng ký thường trú của người chưa thành niên phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ, trừ trường hợp nơi cư trú của người chưa thành niên do Tòa án quyết định
8. Công dân không được đăng ký thường trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

5. Hồ sơ đăng ký thường trú

 
Điều 21. Hồ sơ đăng ký thường trú
.......
2. Hồ sơ đăng ký thường trú đối với người chưa thành niên được bà ngoại giám hộ theo quy định tại khoản 2 điều 20 Luật Cư trú năm 2020
a) Tờ khai thay đổi thông tin cư trú, trong đó ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp hoặc người được ủy quyền, trừ trường hợp đã có ý kiến đồng ý bằng văn bản;
b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ nhân thân với chủ hộ, thành viên hộ gia đình, trừ trường hợp đã có thông tin thể hiện quan hệ này trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú;
c) Giấy tờ, tài liệu chứng minh các điều kiện khác quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 20 của Luật này.
.......
Luật Minh Khuê - Bộ phận tư vấn pháp luật
Trân trọng!