Luật sư tư vấn: 

Bản chất pháp lý của hợp đồng cho vay thể hiện ở những góc độ sau:

 

1. Hợp đồng cho vay là một dạng đặc biệt của hợp đồng vay tài sản

Quan hệ cho vay ngân hàng được hình thành từ quan hệ vay mượn tài sản sơ khai ban đầu, có cơ chế giao dịch, đối tượng, phạm vi điều chỉnh riêng biệt. Tuy cùng là nguồn cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhưng tính chất, mức độ điều tiết vốn tập trung của các ngân hàng cao hơn thông qua vai trò, chức năng của một định chế trung gian (tổ chức tín dụng) hoạt động chuyên nghiệp, có năng lực về tài chính.

Tác giả Nguyễn Văn Vân (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh) đã nghiên cứu sâu sắc luận điểm khoa học của các học giả Nga, các quy định theo pháp luật Việt Nam, khẳng định hợp đồng cho vay như một dạng đặc biệt của hợp đồng vay tài sản xuất phát từ đặc điểm chung nhất của hai dạng hợp đồng này: 

“Nghĩa vụ hoàn trả của người đi vay (tài sản, tiền) cho người cho vay”- (Theo Nguyên Văn Vân: Mấy suy nghĩ về bẩn chất pháp lý của hợp đồng tín dụng ngân hàng) là có cơ sở cả về lý luận và thực tiễn. Nghĩa vụ này xuất phát từ quyền sở hữu tài sản của bên cho vay được pháp luật bảo vệ, cho đến khi bên vay trả hết nợ. Đồng nghĩa rằng, nó không bị vô hiệu hóa bởi bất kỳ trở ngại nào, kể cả các quy định về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp đòi lại tiền vay.

Tuy nhiên, nghĩa vụ hoàn trả tiền vay trong lĩnh vực ngân hàng có khác biệt so với hợp đồng vay tài sản về điều kiện ràng buộc, thực thi khắt khe, phức tạp hơn, thể hiện qua các điểm được phân tích như sau:

- Tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giải ngân theo tiến độ hợp đồng cho vay, trường hợp vi phạm thì phải bị phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cho bên vay:

Theo các luận điểm trong khoa học, hợp đồng cho vay là một dạng “hợp đồng ưng thuận”, có hiệu lực ngay từ khi được ký kết (nếu các bên không có thỏa thuận khác) xuất phát từ nhu cầu, kế hoạch sủ dụng vốn (của bên vay) đã được bên cho vay nhất trí. Đồng nghĩa rằng, bên cho vay phải có nghĩa vụ giải ngân theo tiến độ và điều kiện của hợp đồng như cam kết. về phía bên vay, nếu đã ký kết hợp đồng nhưng không vay, họ cũng phải gánh chịu phí cam kết rút vốn tổ chức tín dụng đã dự phòng cho khoản vay đó.

Quyền được giải ngân tiếp cận vốn vay, về bản chất, đó là quyền yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, khi các điều kiện giải ngân đã được bên vay nghiêm túc thực hiện. Trên thực tế, khó có thể tìm thấy phán quyết nào của tòa án, trọng tài tuyên buộc một ngân hàng phải bồi thường hoặc phạt do vi phạm nghĩa vụ giải ngân làm căn cứ chứng minh thời điểm hiệu lực của hợp đồng cho vay (thời điểm ký kết hay giải ngân), cũng như đánh giá phạm vi, mức độ bồi thường thiệt hại đền đâu. Vì vậy, có ý kiến cho rằng, pháp luật Việt Nam không xem hợp đồng cho vay là hợp đồng thực tế, theo đó: “Luật Việt Nam không coi hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế. Song, trên thực tế, nếu tổ chức tín dụng đã giao kết hợp đồng rồi cuối cùng lại không cho vay, thì sao?”  - Lịch sử tài phán đã có phán quyết của tòa án tuyên buộc ngân hàng bồi thường thiệt hại cho bên vay trên 109 tỷ đồng do vi phạm nghĩa vụ giải ngân. Sau đó, phán quyết này đã bị Tòa án cấp phúc thẩm bác bỏ với lý do ngân hàng không có lỗi. Dù vậy, quan điểm này lại bỏ ngỏ, không đề cập trách nhiệm bồi thường cho bên vay nếu tổ chức tín dụng không tiếp tục cho vay, gây thiệt hại trên thực tế.  

Pháp luật về hợp đồng cho vay trước đây cũng như hiện nay vẫn tiếp tục ghi nhận, đề cao quyền được chủ động cho vay của các tổ chức tín dụng (Nhà nước không can thiệp sâu vào quan hệ vay, chỉ ban hành các quy định mang tính nguyên tắc, điều kiện để khoản vay được an toàn, hiệu quả). Tổ chức tín dụng có quyền từ chối các yêu cầu vay vốn không đáp ứng điều kiện quy định, nhưng phải thông báo và nêu rõ lý do với khách hàng, không xâm phạm đến các quyền tiếp cận tín dụng của các tổ chức, cá nhân.

Khi các bên ký kết thỏa thuận cho vay, hồ sơ xin vay vốn của khách hàng phải được lãnh đạo tổ chức tín dụng phê duyệt. Các quy định về hợp đồng cho vay trước đây cũng như hiện nay không cụ thể hóa nghĩa vụ của tổ chức tín dụng nếu không giải ngân. Dù vậy, trách nhiệm pháp lý vẫn đặt ra đối với bên cho vay, xuất phát từ những cam kêt ràng buộc được các bên thỏa thuận. Trường hợp bên cho vay vi phạm, bên vay được quyền khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa án yêu cầu phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại về những tổn thất bên vay phải gánh chịu, khắc phục những hậu quả. Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là cơ sở pháp lý để bảo đảm quyền được tiếp cận tín dụng của tổ chức, cá nhân, không để xảy ra tình trạng ngân hàng cam kết cấp tín dụng nhưng sau đó tùy tiện không cho vay, với những lý do thiếu thuyết phục.

- Nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và lãi suất của bên vay cho đến khi bên vay trả hết nợ:

Nguyên tắc hoàn trả tiền vay và lãi suất để cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ hợp đồng, phù hợp với chức năng kinh doanh ngân hàng; các tổ chức tín dụng bắt buộc phải xây dựng quy trình tín dụng chặt chẽ, hiệu quả, nỗ lực giám sát dòng vốn vay, có biện pháp bảo đảm tiền vay, thận trọng lựa chọn khách hàng có năng lực tài chính, kinh tế thật sự để cho vay. Tổ chức tín dụng chỉ cho phép miễn giảm nợ gốc và lãi tiền vay khi khách hàng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu được pháp luật cho phép. Chẳng hạn, khi khách hàng vay gặp khó khăn tạm thời, hoặc được miễn giảm lãi theo các chính sách tín dụng, kinh tế của Nhà nước, quy định nội bộ của tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Như vậy, trách nhiệm hợp đồng vay được đề cao, không chỉ đối với bên cho vay ngay từ khi ký kết hợp đồng, mà cả đối với bên vay khi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay. Từ đặc điểm chuyên biệt này, đã thiết lập một cơ chế pháp lý xuyên suốt quy trình cho vay, để bảo đảm: Các nghĩa vụ hoàn trả tiền vay, lãi suất của bên vay được thực hiện đúng tiến độ như đã cam kết.

 

2. Hợp đồng cho vay chứa đựng những đặc điểm pháp lý riêng biệt

Thứ nhất, bên vay phải được sự tín nhiệm của bên cho vay

Tham gia quan hệ hợp đồng cho vay, bên vay phải được tín nhiệm (yếu tố lòng tin) của bên cho vay. Sự tín nhiệm vẫn thường hiện diện trong các quan hệ kinh doanh, thương mại nhưng trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, yếu tố này được cấu thành dưổi nhiều hình thức: quan hệ tín dụng lâu dài, ổn định; bên vay trả nợ đầy đủ, tài chính lành mạnh,... Trong các quy định nội bộ, ngân hàng thường linh hoạt đặt ra những tiêu chí đánh giá mức độ tín nhiệm phù hợp với năng lực kiểm soát của mình, cũng như định lượng có cơ sở khoa học để ấn định một khoản vay hợp lý. Chẳng hạn, mô hình đánh giá 6C (Mô hình này bao gồm: Tư cách của người vay (Character), năng lực của người vay (Capacity), thu nhập của người vay (Cashflow), tài sản bảo đảm (Collateral), các điều kiện môi trường (Conditions), kiểm soát (Control) được các ngân hàng thương mại vận dụng khá phổ biến, phù hợp với môi trường kinh doanh ngân hàng ở Việt Nam. Theo đó, chỉ tiêu năng lực tài chính (hiệu quả sử dụng tiền vay, thu nhập) của khách hàng được mô hình này xác định là yếu tố then chốt, gắn Kền với uy tín, năng lực của người vay.

Trên lý thuyết, khách hàng có thể xác lập nhiều quan hệ tín dụng nhằm đa dạng hóa nguồn vốn vay, giảm rủi ro do không được cho vay từ một tổ chức tín dụng, giải quyết các nhu cầu vay vốn phục vụ cho doanh nghiệp có quy mô tập đoàn, đa ngành nghề. Vì vậy, công tác xây dựng hệ thống chấm điểm xếp hạng nội bộ của các tổ chức tín dụng cần dựa vào các nguồn thông tin từ nhiều tổ chức tín dụng, nơi khách hàng có quan hệ tín dụng, với ý nghĩa - hạn chế thấp nhất những sai sót trong việc đánh giá uy tín, rủi ro tín dụng của khách hàng.

Yếu tố tín nhiệm được định lượng bằng các thước đo, tiêu chí cụ thể, làm cơ sở để đánh giá khả năng tuân thủ, thực hiện tốt các nghĩa vụ hợp đồng vay. Từ những cơ sở này, các tổ chức tín dụng cân nhắc quyết định cho vay hoặc không cho vay, kể cả khi quyết định cho vay thì phải xác định cho phép thực hiện ở phạm vi, mức độ nào để khoản vay có hiệu quả. Đây là công việc khó khăn đối với các tổ chức tín dụng vì công tác đánh giá tín nhiệm thường mang tính dự báo, nhiều rủi ro, bất trắc có thể xảy ra, kể cả những rủi ro do trình độ phân tích, đánh giá dữ kiện (hồ sơ tín dụng khách hàng) của cán bộ tín dụng còn hạn chế.

Thứ hai, đối tượng giao dịch của hợp đồng cho vay là vốn tiền tệ

Vốn tiền tệ, bao gồm tiền mặt (tiền Việt Nam và tiền nước ngoài; đối với khoản vay là ngoại tệ - tiền nước ngoài, pháp luật có quy định về điều kiện cho vay phải đáp ứng nhu cầu sử dụng ngoại tệ chính đáng khi thanh toán ra nước ngoài) và bút tệ (số  dư trên tài khoản hay tiền dưới dạng bút toán ghi sổ), do Nhà nước phát hành, dễ sử dụng, là công cụ thanh toán phổ biến trong nền kinh tế.

Đối tượng của hợp đồng cho vay có những khác biệt cơ bản với hợp đồng thương mại có đối tượng là hàng hóa, những sản phẩm lao động, được giao dịch trao đổi, mua bán để thỏa mãn nhu cầu của con người (ví dụ: bất động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền về tài sản...). Vì vậy, các quy định của pháp luật đặt ra phải phù hợp với đặc điểm đối tượng của quan hệ này. Chẳng hạn, pháp luật thương mại hiện hành cho phép áp dụng các chế tài phạt vi phạm (khoản 2 Điều 292 Luật Thương mại năm 2005, sửa đổi năm 2017, 2019) (Luật Thương mại năm 2005) do chậm giao nhận hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong lĩnh vực ngân hàng, khi bị chuyển nợ quá hạn (hình thức chế tài bằng lãi suất cao hơn lãi suất trong hạn, từ 130%- 150%), ngân hàng đồng thời không thể tiếp tục áp dụng khoản phạt vi phạm đối với sô" tiền chưa thanh toán theo một tỷ lệ nhất định. Cho dù, các bên có thỏa thuận, ghi trong hợp đồng cho vay điều khoản chế tài như vậy nhưng trên thực tiễn xét xử Tòa án đã nhiều lần tuyên bác bỏ (Xem thêm: Quyết định giám đốc thẩm số 08/2017/KDTM- GDT ngày 19/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về nguyền tắc chung, đối tượng của hợp đồng cho vay bao giờ cũng phải là số tiền vay xác định được cụ thể, ghi rõ vào trong hợp đồng vay. Bên vay chỉ phải chịu trách nhiệm đối với số tiền vay họ đã thực nhận, cho dù khoản tiền vay đó bị trượt giá so với sự biến động của thị trường tại thời điểm hoàn trả. Quy định này tương đồng như pháp luật của các nước (Ví dụ: Điều 1894 Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp, Chương II). Người vay khi sử dụng tiền vay phải tuân thủ đúng mục đích sử dụng vốn vay đã được bên cho vay thẩm tra, chấp thuận để kiểm soát và tăng khả năng hoàn trả. Đối với những khoản vay tiêu dùng dưới hình thức thấu chi, do giá trị khoản vay nhỏ, giải quyết cho các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, bên vay có thể sử dụng tiền vay vào bất kỳ mục đích nào mình muốn, chỉ cần trong phạm vi hạn mức tín dụng được ngân hàng quyết định cho phép.

Từ hành vi giải ngân, đến các yêu cầu sử dụng vốn đúng mục đích, vấn đề pháp lý được đặt ra là tiền vay sau khi được chuyển giao cho bên vay (còn gọi là “giải ngân”) thì sô tiền đó có phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên vay hay không? Phạm vi, giới hạn định đoạt tiền vay trong trường hợp này được pháp luật trao quyền cho phép các chủ thể vay thực hiện ở mức độ nào?

Các quan điểm khoa học hiện nay nhìn chung đều cho rằng, hành vi chuyển giao quyền sở hữu (tiền vay) chỉ là “tạm thời”. Trường hợp, tiền vay chuyển vào tài khoản của bên vay theo tiến độ của hợp đồng cho vay, thì bên vay chỉ được phép sử dụng vào đúng mục đích được ấn định từ trước theo các điều kiện đã cam kết với ngân hàng. Do đó, về lý thuyết, tiền vay cũng phải được sử dụng đúng mục đích vay. Khoản tiền do bên vay nắm giữ có nguồn gốc của ngân hàng, được ngân hàng cho vay theo các điều kiện của hợp đồng. Vì vậy, không một tổ chức, cá nhân nào được phép tịch thu, kê biên số tiền vay để cấn trừ cho bất kỳ nghĩa vụ, hay vì bất kỳ lý do nào khác.

Thứ ba, hợp đồng cho vay thông thường là những hợp đồng do các tổ chức tín dụng chủ động soạn thảo, nội dung hợp đồng thể hiện quyền lợi tối ưu, thế mạnh của bên cho vay

Các tổ chức tín dụng là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn, họ phải tập trung mọi nguồn lực nghiên cứu, xây dựng mẫu hợp đồng cho vay để ứng dụng thông suốt trong toàn hệ thống ngân hàng có quy mô khá lớn. Các điều khoản hợp đồng này thường được thiết kế chặt chẽ, tối ưu về lợi ích. Đồng nghĩa, nó (hợp đồng cho vay) sẽ tạo ra nhiều bất lợi đối với bên vay khi thực hiện, cũng như khi có tranh chấp xảy ra (tạm gọi là những điều khoản, thỏa thuận khung).

Điển hình, mẫu hợp đồng tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần PhD đang được sử dụng (Mẫu số 01A/TD-OCB/2017), tại điểm c khoản 3 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng trao quyền chủ động thu hồi nợ trước hạn cho chính ngân hàng khi xảy ra các tình huốhg như sau:

“Bên vay có thay đổi về hoạt động hoặc/và tổ chức... và/ hoặc có thay đổi về cổ đông có quyền biểu quyết hoặc/và nhân sự chủ chốt... có thể làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh và khả năng trả nợ của Bên vay...”.

Điều khoản mẫu hợp đồng này sử dụng các cụm từ như: “ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh”, “khả năng trả nợ” thể hiện các cán cứ cho phép thu hồi nợ trước hạn mơ hồ, không rõ nhân tố trực tiếp gây rủi ro, xảy ra nguy cơ mất an toàn vay, cần có một tiêu chí bắt buộc để bên cho vay được phép thu hồi các khoản nợ trước hạn chính đáng, hợp pháp.

Trong lĩnh vực tiêu dùng, pháp luật Việt Nam và các nước đều đề cao, ban hành các quy định bảo vệ quyền lợi người vay tiêu dùng yếu thế. Do đó, hợp đồng cho vay tiêu dùng cũng phải thể hiện dưới hình thức “hợp đồng theo mẫu” (dạng hợp đồng này hiện nay đã được luật hóa để bảo vệ quyền lợi của bên yếu thế trong quan hệ dân sự). Vì vậy, các điều khoản phải bảo đảm tính minh bạch, bình đẳng quyền lợi của bên vay. (Thực tế hiện nay cho thấy, trong hoạt động cho vay tiêu dùng của công ty tài chính, người vay vẫn còn bị bất lợi bởi các quy định do chính tổ chức này áp đặt, lãi suất cao, thiếu minh bạch, các biện pháp đòi nợ chèn ép... như dư luận phản ánh). Song do tính chất linh hoạt của quan hệ hợp đồng, người vay với tư cách là bên đề nghị cung ứng dịch vụ, những hợp đồng theo mẫu này cũng sẽ không tránh khỏi những nội dung bất lợi cho bên vay.

Như vậy, xuất phát từ tính chuyên nghiệp, quy mô của tổ chức tín dụng, các hợp đồng cho vay được xác lập trên lý thuyết, sẽ được các bên đồng thuận, tự nguyện giao kết. Các hợp đồng này đều do bên có thế mạnh (ngân hàng) soạn thảo, có sự đầu tư khá kỹ lưỡng (kể cả trong các hợp đồng vay không nhằm mục đích tiêu dùng), nên ẩn chứa những bất lợi đối với bên vay, nguy cơ thiếu bình đẳng, đi ngược lại bản chất công bằng của quan hệ hợp đồng. Đặc biệt là trong lĩnh vực vay tiêu dùng, như đã đề cập, phân tích, các quy định hiện nay đang tạo ra những khoảng trống pháp lý để các tổ chức tín dụng khai thác, hưởng lợi.

Thứ tư, thời hạn thực hiện hợp đồng cho vay thường kéo dài, nhiều rủi ro khó lường, dễ phát sinh mâu thuẫn, tranh chấp

Khi ký kết hợp đồng cho vay, các bên đều hướng đên các mục đích (lợi ích) khác nhau, trong đó có các nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận. Thời hạn hợp đồng vay thường kéo dài cùng với quá trình hoạt động sản xuất đầu tư, kinh doanh của bên vay. Điều này khác với các hợp đồng thương mại, kinh doanh thông thường, các bên chỉ thực hiện một vài công đoạn đầu tư, hoặc một giao dịch cụ thể, được chấm dứt khi giao dịch, công việc đó hoàn thành. Các mâu thuẫn, tranh chấp nếu có chỉ dừng lại ở phạm vi công việc được thực hiện theo cam kết. Các bên có thể thay đổi chủ thể, lựa chọn áp dụng các biện pháp duy trì hoặc hoán đổi nội dung hợp đồng.

Đối với khoản vay có thời hạn kéo dài (các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng hiện nay vẫn duy trì, phân chia khoản vay thành 03 loại: ngắn, trung và dài hạn, tương ứng với các khoảng thời gian hợp lý) sẽ phát sinh nhiều rủi ro chủ quan hoặc khách quan (do hoạt động sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả). Do đó, công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn được đặt ra, và là giải pháp ưu tiên hàng đầu đối với các tổ chức tín dụng. Thông qua hành vi ký kết hợp đồng, tổ chức tín dụng chủ động đưa vào hợp đồng vay những điều khoản được ràng buộc bằng nhiều điều kiện khắt khe, chặt chẽ đối với bên vay để ngăn chặn và xử lý kịp thời các vấn đề rủi ro tín dụng phát sinh. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến các hợp đồng cho vay dễ xảy ra những mâu thuẫn, tranh chấp. Các tranh chấp này không đơn thuần chỉ dừng lại ở nghĩa vụ hoàn trả tiền vay như thường thấy, đó có thể là những tranh chấp phát sinh tương ứng với quá trình thực hiện hợp đồng, chẳng hạn: tranh chấp do cung cấp thông tin tín dụng không đúng sự thật, tranh chấp về nghĩa vụ giải ngân, tranh chấp mức lãi,...

Tham gia giải quyết tranh chấp là yêu cầu tất yếu, khách quan, quá trình tố tụng này thường kéo dài, đòi hỏi tốn kém nhiều nhân lực, tiền bạc. Vì vậy, các ngân hàng phải chủ động xây dựng đội ngũ pháp chế chuyên nghiệp, chủ động giải quyết những tranh chấp, vướng mắc phát sinh, nhằm mang lại những hiệu quả, thiết thực, thay vì giao trách nhiệm này cho các cán bộ, nhân viên tín dụng như thực tế hiện nay.

Tóm lại, hợp đồng cho vay có đặc điểm chung của hợp đồng nhưng cũng thể hiện nhiều đặc thù, khác biệt so với các hợp đồng kinh doanh, thương mại xuất phát từ quyền định đoạt tài sản trong kinh doanh của tổ chức tín dụng có những giới hạn khắt khe hơn, như được đề cập. Hơn thế nữa, hoạt động cho vay gắn liền với trọng trách cung ứng vốn cho nền kinh tế, tác động đến hoạt động quản lý vĩ mô của Nhà nước. Do đó, trong mối quan hệ này, quyền tự do hợp đồng, tự do kinh doanh không chỉ đơn thuần là mục tiêu lợi ích giữa các chủ thể đi vay và cho vay, đó còn là lợi ích, trật tự chung của nền kinh tế.

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hoạt động vay vốn, giải ngân vốn... Quý khác hàng vui lòng gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng, tài chính trực tuyến qua tổng đài điện thoại. Đội ngũ luật sư của Công ty luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.