Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

Cơ sở pháp lý: 

- Hiến pháp năm 2013

- Luật thi hành án hình sự năm 2019

1. Chức năng của thi hành án hình sự là gì?

Thi hành án hình sự là hoạt động tổ chức thi hành các bản án, quyết định về hình sự có hiệu lực của Tòa án nhằm thi hành nội dung phán quyết được nêu trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (cơ quan thực hiện quyển tư pháp).

Thứ nhất, hoạt động thi hành án hình sự có các chức năng cơ bản, là bảo đảm, duy trì công lý, là sự tiếp nối trực tiếp chức năng xét xử của Tòa án. Vì công lý được thực thi hay không, phụ thuộc vào quá trình thực thi các biện pháp pháp lý nhằm buộc người chịu án phải chấp hành bản án trên thực tế.

Thứ hai, là chức năng cưỡng chế, thực hiện mục đích trừng trị của hình phạt, được thực hiện thông qua những biện pháp hạn chế quyền của người bị kết án, buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ do bản án, quyết định đã xác định.

Thứ ba, chức năng giáo dục được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế để thông qua đó giáo dục sự tôn trọng công lý, tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền của người khác.

2. Nội dung bảo đảm quyền của người chấp hành hình phạt tù tại các trại giam

Vì các bản án hình sự, trong đó đa số là các bản án tuyên bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam đã tước hoặc hạn chế một số quyền của con người, quyền công dân nên trách nhiệm của Nhà nước và xã hội là làm thế nào để quyền và lợi ích hợp pháp của người phải chấp hành hình phạt không bị xâm phạm. Luật Thi hành án hình sự năm 2019 đã đáp ứng được các yêu cầu này. Điều đó thể hiện qua những nội dung sau đây:

2.1. Về nguyên tắc thi hành án hình sự

Theo đó, việc chấp hành hình phạt nói chung, chấp hành hình phạt tại các trại giam nói riêng cẩn tuân thủ một số nguyên tắc về bảo đảm quyền con người như: nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án. Thi hành án đối với người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội. Khuyến khích người chấp hành án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt hại. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.

2.2. Quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự

Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự liên quan đến quyền con người được Luật Thi hành án hình sự năm 2019 gồm:

1) Không ra quyết định thi hành án hình sự; không thi hành quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật và quyết định khác của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự;

2) Tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành án, biện pháp tư pháp;

3) Kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án (Điều 10).

2.3. Quy định phạm vi rộng các quyền của phạm nhân

Đối với việc thi hành hình phạt tù, cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, Điều 27 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 quy định một phạm vi rộng các quyền của phạm nhân, gồm:

  1. Được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tôn trọng
    danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;
  2. Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyển hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án;
  3. Được tham gia hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;
  4. Được lao động, học tập, học nghề;
  5. Được gặp, liên lạc với thân nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
  6. Được tự mình hoặc thông qua người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;
  7. Được bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
  8. Được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật;
  9. Được sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật;
  10. Được khen thưởng khi có thành tích trong quá trình chấp hành án.
  11. Được phổ biến pháp luật, giáo dục công dân và được
    học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hóa để xóa mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt.

2.4. Quy định cụ thể về chế độ quản lý

Về chế độ giam giữ:

Có 08 đối tượng được giam giữ riêng là:

- Phạm nhân nữ;

- Phạm nhân là người dưới 18 tuổi;

- Phạm nhân là người nước ngoài;

- Phạm nhân là người mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm;

- Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án;

- Phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam;

- Phạm nhân thường xuyên vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;

- Phạm nhân là người đồng tính, người chuyên đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính.

Về chế độ ăn, ở của phạm nhân: Phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, muối, nước mắm, dầu ăn, bột ngọt, chất đốt. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của pháp luật thì định lượng ăn được tăng thêm. Phạm nhân được bảo đảm chế độ ăn, uống hợp vệ sinh. Phạm nhân được ở theo buồng giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng. Chỗ nằm tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2. Đối với phạm nhân có con nhỏ ở cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2. Phạm nhân được cấp quẩn áo theo mẫu thống nhất và các đồ dùng cho sinh hoạt cá nhân.

Phạm nhân được hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điểu kiện của nơi chấp hành án. Phạm nhân theo tôn giáo được sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.

Phạm nhân nữ có thai được chăm sóc y tế, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe; được nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi, trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em.

2.5. Quy định các trường hợp miễn, giảm thi hành án

Các biện pháp bảo đảm quyền con người trong việc miễn, giảm thi hành án được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Đó là các trường hợp:

Miễn chấp hành hình phạt đối với:

- Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm, nếu chưa chấp hành hình phạt thì theo đê' nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu sau khi bị kết án đã lập công; hoặc chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa; hoặc mắc bệnh hiểm nghèo.

- Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm, nếu chưa chấp hành hình phạt mà đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

- Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại (Điều 62).

Giảm mức hình phạt đã tuyên: Người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của Cơ quan Thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt (Điều 63).

Hoãn chấp hành hình phạt tù: Trường người bị xử phạt tù bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục; người bị xử phạt tù là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi; người bị xử phạt tù là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người
đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 67).

Tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66) là một chính sách hoàn toàn mới, cho phép sớm đưa người phạm tội bị xử phạt tù quay trở về với cộng đồng để sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, cơ quan, đoàn thể xã hội.

Điều kiện của tha tù trước thời hạn gồm: người đó phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên; có nơi cư trú rõ ràng; đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự; đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhầt 15 năm đối với tù chung thần đã được giảm xuống tù có thời hạn. Ihực chất, đây là việc trả tự do sớm đối với người đang chấp hành hình phạt tù; sau khi được trả tự do, người đó phải tuân thủ một số điều kiện nhất định do cơ quan có thẩm quyền xác định trong một thời gian tạm gọi là thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan có thẩm quyền có thể thay đổi điều kiện thử thách hoặc có thể buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

Việc quy định các biện pháp miễn, giảm thi hành án nói trên một mặt thể hiện tính nhân đạo, bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù; mặt khác khuyến khích người phạm tội sửa chữa lỗi lầm, sớm trở về cuộc sống lương thiện, tái hòa nhập cộng đồng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê