Quyền tư pháp phải có sự độc lập tương đối trong quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành pháp, để giúp cho quyển tư pháp có cái nhìn khách quan, toàn diện, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý của mình. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 10) đã tuyên bố: Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như vê bất cứ sự buộc tội nào đối với họ. Và Tuyên bố Bắc Kinh về các nguyên tắc độc lập tư pháp đã định nghĩa về độc lập tư pháp là: Cơ quan tư pháp quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền dựa trên sự đánh giá khách quan của mình về các sự kiện của vụ án và trình độ hiểu biết pháp luật của mình mà không chịu sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp của bất kỳ cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nào.

1. Tính độc lập của Tòa án được quy định như thế nào?

Nguyên tắc độc lập của Tòa án có nguồn gốc từ học thuyết phân quyền, theo đó quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tạo thành ba nhánh độc lập của quyền lực nhà nước, hình thành một cơ chế chế ước và cân bằng lẫn nhau, nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực làm tổn hại đến xã hội tự do. Sự độc lập này còn có nghĩa là cả hệ thống Tòa án với tư cách là một thiết chế, cũng như từng thẩm phán giải quyết các vụ việc phải có khả năng thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp của mình mà không chịu ảnh hưởng của các nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp. Dựa trên nguyên tắc phân quyền, quyền lực của Tòa án phải được tách rời khỏi sự ảnh hưởng của quyền lực lập pháp và hành pháp. Sự tách quyền tư pháp ra khỏi quyền lập pháp và nhất là hành pháp là một thành công rất lớn của cách mạng dân chủ tư sản.
Mục đích của nguyên tắc Tòa án độc lập là làm cho thẩm phán được tự do trong xét xử để Tòa án thuận tiện hơn trong việc phục vụ công lý, bảo vệ quyền lợi của các bên. Tính độc lập của Tòa án thể hiện ở việc Tòa án phải có quyền quyết định các vụ việc một cách vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo luật pháp mà không chịu những hạn chế, tác động hay ảnh hưởng không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ, đe dọa hay can thiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ chủ thể nào, với bất cứ lý do nào. Thêm vào đó, Tòa án phải có quyền tài phán đối với mọi vấn đề thuộc thẩm quyền xét xử và phải có quyền lực riêng để quyết định xem một vụ việc được trình lên Tòa án có thuộc thẩm quyền của Tòa theo như luật pháp quy định hay không.

2. Nội dung của việc bảo đảm Tòa án là một thiết chế độc lập.

2.1. Cơ quan xét xử một cách thống nhất.

Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước. Vì vậy, xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước đều phải thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Tòa án phải là cơ quan xét xử một cách thống nhất, thể hiện qua hoạt động tuân theo thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, có đường lối áp dụng pháp luật nhất quán, cách đánh giá chứng cứ khoa học, chuẩn mực trong quá trình xét xử. Công lý thể hiện hình thức bao giờ cũng nhất quán, chặt chẽ, thống nhất, do đó Tòa án xét xử bảo vệ công lý cũng phải giữ cho mình những tính chất như thế. Có đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong xét xử thì Tòa án mới có tính độc lập, không dễ dàng bị tác động bởi những ý kiến sai lệch khác nhau.

2.2. Cơ quan xét xử một cách khách quan.

 Tòa án phải là cơ quan xét xử một cách khách quan qua việc đảm bảo thực hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết vụ việc, đó là: Nguyên tắc xét xử tập thể; nguyên tắc xét xử công khai; nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc các bên tham gia tố tụng đều bình đẳng trước Tòa án, trước pháp luật; nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, quyền bảo vệ của bị can, bị cáo, đương sự; nguyên tắc suy đoán vô tội; nguyên tắc tranh tụng; nguyên tắc bảo đảm người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Tòa án...Thẩm phán là người áp dụng pháp luật. Trên cơ sở xác định sự kiện pháp lý, sự thật khách quan của vụ án, Thẩm phán áp dụng quy định của pháp luật để phán quyết về vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý và phán quyết đó làm phát sinh hậu quả đối với con người, đối với xã hội. Mọi hoạt động nghề nghiệp của Thẩm phán đều được thực hiện đúng với trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; chịu sự tác động trực tiếp của pháp luật. Sự thật, pháp luật, công bằng, công lý luôn là những yếu tố song hành cùng Thẩm phán trong công việc cũng như cuộc sống thường nhật. Thẩm phán còn phải chịu sự giám sát trong nội bộ Tòa án. Cho nên, cùng với pháp luật, các quy chế hành nghề, quy phạm đạo đức của Thẩm phán là những công cụ cho việc giám sát, kiểm soát bên trong hệ thống Tòa án nhân dân; đó cũng là những tiêu chí mà Thẩm phán căn cứ vào để sống và làm việc; các cơ quan có thẩm quyền và công chúng thực hiện việc kiểm soát, giám sát.

Những nguyên tắc này đều là những giá trị văn minh pháp lý đảm bảo cho Tòa án có tính khách quan cần thiết để có thể giải quyết vụ việc được chính xác, công bằng.

2.3. Có cơ chế phân công, tổ chức thẩm quyền xét xử một cách khoa học. 

Hiện nay, thẩm quyền xét xử của các Tòa án được tổ chức vừa theo lãnh thổ, vừa theo tính chất các vụ việc và thủ tục giải quyết, xét xử các vụ án. Theo quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, các Tòa án cấp trên đều có thẩm quyền xét xử hỗn hợp hoặc vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm như của Tòa án cấp cao. Tòa án phải có cơ chế phân công, tổ chức thẩm quyền xét xử một cách khoa học vừa đảm bảo tính thống nhất nhưng cũng vừa đảm bảo tính độc lập nhất định để giúp cho việc xét xử bảo vệ công lý được thực hiện nhanh chóng, chính xác, hiệu quả. Theo chiều dọc, đó là phân thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; các cấp xét xử độc lập với nhau, chỉ căn cứ vào chứng cứ và pháp luật để giải quyết vụ việc. Các Tòa án đóng tại địa phương phải thể hiện tính độc lập, tổ chức theo thẩm quyền xét xử chứ không phải là cơ quan hành chính địa phương (tên gọi phải nên quy định là Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm tại huyện..., Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm tại tỉnh...). Theo chiều ngang, đó là phân thẩm quyền chuyên môn như hình sự, dân sự, hành chính... để giải quyết hiệu quả, nhanh chóng những vụ việc đa dạng. Việc phân công, tổ chức thẩm quyền xét xử phải luôn được chú trọng để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu đa dạng của xã hội và đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ trong hoạt động xét xử.

Việc tổ chức Tòa án theo địa giới hành chính như hiện nay không còn phù hợp so với khối lượng công việc, khối lượng vụ án hình sự và khối lượng tranh chấp các loại án mà Tòa án phải xét xử, cũng như quy mô, độ phức tạp, mức nghiêm trọng của các vụ án rất khác biệt giữa các địa bàn, dẫn đến hiệu quả xét xử không cao, án tồn đọng nhiều, nhất là hiện tượng vi phạm nguyên tắc độc lập của Tòa án, vì có sự can thiệp của cấp chính quyền và của các cấp ủy địa phương,… Do đó, việc nghiên cứu mô hình Tòa án theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính như hiện nay là cần thiết.

2.4. Tòa án tổ chức hoạt động một cách thống nhất, khoa học, tập trung vào Tòa án nhân dân tối cao.

Đây là yêu cầu rất quan trọng để đảm bảo cho Tòa án có tính độc lập một cách tương đối, thể hiện ở những nội dung sau đây:

-  Công tác nhân sự phải do Tòa án nhân dân tối cao thống nhất quản lý bởi một bộ phận chuyên trách. Tòa án nhân dân tối cao phải là cơ quan đầu mối, nắm thông tin, chất lượng cán bộ để bổ nhiệm, đề bạt; nắm tình hình giải quyết vụ việc của các Tòa mà quyết định phân bổ, điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ cho phù hợp, công bằng; thực hiện việc đánh giá, kỷ luật, xử lý vi phạm cán bộ để bảo đảm tính khách quan, thống nhất... Không nên phân quyền cho Chánh án Tòa án các cấp vì dễ phát sinh tiêu cực, ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của Thẩm phán;

- Về Tòa án địa phương, cần phải thống nhất quan điểm cấp trên của Tòa án là pháp luật, chứ không phải là Chánh án. Chánh án nên là những Thẩm phán giỏi, có uy tín do Thẩm phán Tòa án cấp đó bầu chọn đề nghị Tòa án nhân dân tối cao phê chuẩn. Chánh án Tòa án địa phương là người quản lý chuyên môn và quản lý chung để đảm bảo việc xét xử được độc lập, chỉ tuân theo pháp luật; là đại diện cho Tòa án báo cáo công tác tại Hội đồng nhân dân mà không cần phải là thành viên của Hội đồng nhân dân, việc đảm bảo đường lối của địa phương sẽ được thực hiện thông qua Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng xét xử;

- Về công tác kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử, Tòa án nhân dân tối cao phải mở rộng các kênh nắm bắt thông tin như: Tăng cường công tác công khai bản án, quyết định; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất; quy định cơ chế giải trình giúp Thẩm phán có bản án, quyết định bị hủy, sửa được nêu quan điểm bảo vệ tính đúng đắn trong phán quyết của mình; tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo... để qua đó Tòa án tối cao có thể nắm rõ việc xét xử ở mỗi cấp có đúng đắn hay không, từ cấp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm để từ đó giúp Tòa án tối cao có biện pháp chấn chỉnh kịp thời;

- Về công tác tổng kết thi đua, Tòa án nhân dân tối cao cần quản lý theo cách khoa học hơn, đúng tính chất đặc thù của công tác xét xử để xác định đúng thực chất thành tích và những khó khăn. Công tác tổng kết thi đua nên tập trung phân tích số liệu phản ánh từng loại vụ việc, số liệu vụ việc bị hủy, sửa do lỗi chủ quan, số liệu vụ việc quá hạn luật định, vụ việc phải tạm đình chỉ... mà không nên chỉ chú trọng vào số liệu giải quyết được trong năm;

- Về công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, thi tuyển, Tòa án nhân dân tối cao phải thống nhất thực hiện một cách thường xuyên, cập nhật để kịp thời bổ sung kiến thức cần thiết, sửa chữa nhanh chóng những sai sót để nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ xét xử; các hình thức thi tuyển phải thực chất, khách quan để tuyển chọn chính xác...;

-  Về bản thân cán bộ trực tiếp xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải không ngừng học tập nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, trau dồi, cập nhật kiến thức pháp lý và các kỹ năng cần thiết, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp và bản lĩnh chính trị, nhất là phải nắm vững các yêu cầu của nội dung bảo vệ công lý và phương thức bảo vệ công lý, để ngày càng nâng cao chất lượng xét xử, phấn đấu vì nhiệm vụ bảo vệ công lý.

2.5. Tòa án có uy quyền nhất định và phải có ngân sách để đảm bảo cho hoạt động được độc lập.

Tòa án phải được có uy quyền nhất định để thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả, nghiêm minh. Đó là Tòa án phải có quyền xử lý nhanh chóng các cơ quan, tổ chức, cá nhân gây cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án với các biện pháp chế tài có sức răn đe và phải có đội ngũ cảnh sát tư pháp thường trực để thực thi các quyết định của Tòa án và đảm bảo an ninh cho cán bộ xét xử. Vấn đề này các nước trên thế giới hiện nay đều quy định và trang bị cho lực lượng cảnh sát tư pháp vũ khí và công cụ hỗ trợ để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Có như vậy mới thực sự bảo đảm tính nghiêm minh của Tòa án khiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng, chứ không chỉ đơn thuần là cấm và buộc tôn trọng “suông” trên văn bản.

Tòa án phải có ngân sách đảm bảo cho hoạt động được độc lập; chế độ lương bổng của cán bộ xét xử phải tương xứng, không bị cắt giảm nếu vẫn giữ được phẩm chất...Độc lập với các yếu tố bên ngoài là khi nghiên cứu hồ sơ cũng như khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra của cơ quan điều tra, không bị lệ thuộc vào cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Quá trình nghiên cứu hồ sơ và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phải xem xét, thẩm tra đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Khoản 3 Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định “khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”. Tuyên bố Bắc Kinh đã đề nghị: Ngân sách của Toà án do Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền cùng phối hợp với Toà án dự trù dựa trên những nhu cầu cần thiết để bảo đảm độc lập xét xử và công tác quản lý hành chính. Ngân sách dành cho Toà án cần phải đủ để Toà án có thể thực hiện được chức năng của mình mà không phải đảm trách khối lượng cống việc lớn quá mức. Thẩm phán phải được hưởng sự ưu đãi thỏa đáng và điều kiện làm việc thích hợp. Những ưu đãi và điều kiện làm việc của Thẩm phán không thể bị thay đổi theo chiều hướng bất lợi trong suốt nhiệm kỳ Thẩm phán, trừ trường hợp nếu việc thay đổi đó là nằm trong biện pháp kinh tế công thống nhất và phải được sự đồng ý của tất cả hoặc đa số các Thẩm phán của Tòa án liên quan

Luật Minh Khuê - Biên tập và Sưu tầm