1. Thi hành án là gì?
Khi các cá nhân, tổ chức phát sinh tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết, phán quyết của Tòa án chỉ là kết quả về mặt pháp lý. Để bảo vệ quyền lợi của mình trên thực tế, bên thắng kiện phải yêu cầu cơ quan thi hành án tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án được gọi là thi hành án.
Ngày nay, pháp luật cho phép Văn phòng Thừa phát lại có thẩm quyền thi hành án tương tự như Chi cục thi hành án. Tạo điều kiện cho người dân được lựa chọn dịch vụ thi hành án một cách tốt nhất để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình.
2. Cơ quan tư pháp Hoa Kỳ
Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 dành Điều 3 để quy định về các cơ quan Tư pháp. Thẹo khoản 1 Điều 3 của Hiến pháp quyền tư pháp Hợp chủng quốc được trao cho một Tối cao pháp viện và các tòa án cấp dưới của nó. Các thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời và được hưởng một khoản lương không bao giờ bị sút giảm trong suốt thời kỳ tại chức.
Thẩm quyền Tư pháp Hoa Kỳ có phạm vi rộng bao gồm tất cả các sự vụ xét trên phương diện luật pháp và công lý dựa trên Hiến pháp và pháp luật Hoa Kỳ, các hiệp ước đã ký kết hoặc sẽ ký kết theo thẩm quyền của Liên bang, các vụ việc liên quan tới các đại sứ, các sứ thần và các lãnh sự, tất cả các sự vụ thuộc thẩm quyền luật pháp hàng hải và hải quân; những vụ tranh tụng trong đó chính phủ hợp chủng quốc là một trong các bên tranh chấp; những vụ tranh chấp giữa hai hay nhiều tiểu bang, giữa công dân của các tiểu bang, giữa công dân của cùng một tiểu bang tranh giành đất đai mà nhiều tiểu bang có quyền cấp phát; giữa một tiểu bang hoặc công dân của một tiểu bang với một ngoại bang hoặc công dân các chủ thể pháp luật của một ngoại bang Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 tất cả các vụ liên quan tới các đại sứ, các sứ thần và các lãnh sự và trong những vụ mà một tiểu bang là một bên tham dự thì Tối cao pháp viện sẽ có quyền xét xử sơ thẩm đổng thời chung thẩm. Đối với các vụ việc ngoài quy định trên đây Tối cao pháp viện có quyền xét xử phúc thẩm về hình thức cũng như nội dung (xem xét về mặt thủ tục xét, xử cũng như nội dung vụ việc) trừ những ngoại lệ mà quốc hội có thể quy định.
Ở mỗi tòa án quận có một viện công tố liên bang (US Attorney) làm việc dưới sự lãnh đạo của chưởng lý tối cao (Attorney General) là thành viên của chính phủ. Thẩm quyền của công tố viên bị giới hạn vào việc thi hành các luật Liên bang. Các công tố viên nhà nước tiến hành thủ tục buộc tội, còn sự chủ động được dành cho các bên và cho những luật sư của mỗi bên trong tiến trình xét xử, hoặc vụ án được giải quyết bằng sự thương lượng của các bên. về mặt hình sự quyết định kết tội thuộc về một đọàn bồi thẩm (Grand Jury) bao gồm những công dân không phải là luật gia trên cơ sở những yếu tố bằng chứng do công tố viên tập họp. Thẩm phán lãnh đạo công việc xét xử, hướng dẫn đoàn bồi thẩm xét xử theo đúng quy định của luật pháp.
3. Vị trí của quyền tư pháp ở Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, Hiến pháp năm 1787 ghi nhận 4 nguyên tắc quan trọng là: Phân chia quyền lực, chủ nghĩa liên bang, chủ quyền nhân dân và cân bằng quyền lực. Việc tách quyền lực, được gọi là "separation of power", đạt được qua sự chia quyền lực thành 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lập pháp được thực hiện bởi cả hai viện của Quốc hội là Thượng nghị viện "House of Senate" và hạ nghị viện "House of Representatives". Quyền hành pháp thuộc về Tổng thống. Quyền tư pháp được xem là quyền lực thứ ba và bao gồm một hệ thống các tòa án được tổ chức trên cả nước, trong đó có Tòa án tối cao (Supreme Court) của Hợp chủng quốc. Tòa án tối cao là Tòa án hiến pháp liên bang. Theo quy định tại Điều 3, khoản 1 Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì: "Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp". Các nhà lập hiến của Mỹ đã tạo ra một quyền lực tư pháp riêng để bảo vệ các quyền cơ bản và thể chế hóa liên bang về mặt pháp lý.
Tòa án tối cao liên bang là thiết chế cao nhất của quyền tư pháp. Trên thực tế, qua các phán quyết nguyên tắc của mình Tòa án tối cao đã phát triển thành một nhân tố chính trị quan trọng trong hệ thống quyền lực của chính trị Mỹ. Trong hệ thống tư pháp, Tòa án tối cao là tòa án cấp phúc thẩm cao nhất. Trong một ít lĩnh vực khác nó thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm: Trong những khiếu kiện chống lại nhà ngoại giao và trong các trường hợp mà ở đó là một trong các Nhà nước bang. Đặc biệt theo Hiến pháp, Tòa án tối cao có thẩm quyền đối với các tranh chấp giữa một nhà nước bang và một công dân của một Nhà nước bang khác. Bên cạnh các tòa án liên bang chuyên ngành đối với các công việc thuế, hải quan, quân sự, ở Hoa Kỳ có trên 90 tòa án khu vực cấp liên bang (United States District Courts) như là cấp liên bang thấp nhất. Cấp trung gian bao gồm mười hai tòa phúc thẩm liên bang nói chung (United States Court of Appeal), được phân chia trên toàn quốc và giữa ba và chín bang tập hợp thành một tòa khu vực.Tài phán của các bang cơ bản thích hợp với mô hình này.
4. Hoạt động thi hành án ở Hoa Kỳ
Hoạt động thi hành án ở Hoa Kỳ không được coi là một giai đoạn của tố tụng. Trong quy định về tố tụng ở cả cấp Liên bang(3) lẫn quy định về tố tụng ở cấp bang đều không có quy định về công tác thi hành án. Việc thi hành án cũng được tách biệt giữa cấp Liên bang và cấp bang.
4.1. Cấp Liên bang
Cơ quan chịu trách nhiệm về thi hành pháp luật ở cấp Liên bang là Tổng cục Thi hành pháp luật Liên bang (US Marshal Service)(4), một đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Gắn với mỗi Toà án khu vực Liên bang (tổng cộng có 94 Toà án khu vực Liên bang với thẩm quyền xét xử sơ thẩm; cấp trên của các Toà án này là các Toà phúc thẩm Liên bang và đỉnh của hệ thống là Toà án tối cao Hoa Kỳ) đều có 1 Cục Thi hành pháp luật Liên bang đứng đầu là Cục trưởng do Tổng thống – người đứng đầu bộ máy hành pháp Hoa Kỳ – bổ nhiệm. Kinh phí hoạt động của Tổng cục Thi hành pháp luật Liên bang đến từ nguồn ngân sách và từ các khoản thu do bắt giữ và đấu giá tài sản.
Cục Thi hành pháp luật Liên bang là cơ quan chịu trách nhiệm thi hành pháp luật tại các khu vực thẩm quyền của các Tòa án Liên bang. Các chức năng nhiệm vụ chính của Cục bao gồm(5)a:
– Chức năng điều tra, bắt giữ các đối tượng bị tình nghi phạm tội;
– Chức năng bắt giữ, đấu giá tài sản. Đây là chức năng quan trọng thứ hai trong số các chức năng của cơ quan thi hành pháp luật Liên bang. Các tài sản bị bắt giữ bao gồm cả tài sản liên quan tới tội phạm hình sự, cả tài sản liên quan tới thi hành án dân sự;
– Chức năng quản lý và vận hành các nhà tù;
– Chức năng áp giải tội phạm trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ và dẫn độ tội phạm qua biên giới;
– Chức năng bảo vệ các Tòa án Liên bang, giữ an ninh trật tự cho các phiên tòa tại các Tòa án này, bảo vệ nhân chứng và gia đình họ, bảo vệ các nhân vật quan trọng trong chính quyền.
Như vậy có thể thấy, cơ quan thi hành pháp luật Liên bang của Hoa Kỳ có chức năng vừa giống cơ quan điều tra, vừa giống cơ quan cảnh sát tư pháp, vừa giống cơ quan quản lý trại giam, vừa giống cơ quan thi hành án hình sự và dân sự ở Việt Nam(6).
4.2. Cấp bang
Đối với hoạt động thi hành pháp luật, chức danh quan trọng nhất là cảnh sát trưởng (sheriff). Ngoài cảnh sát trưởng và đơn vị trực thuộc và Văn phòng cảnh sát trưởng, nhiều địa phương ở Hoa Kỳ còn có cả Sở cảnh sát cũng tham gia vào thực hiện chức năng thi hành pháp luật.
Tại hầu hết các bang ở Hoa Kỳ, cảnh sát trưởng chính là nhân viên thi hành pháp luật cao nhất. Cảnh sát trưởng tại mỗi quận được người dân trong quận bầu ra và đồng thời giữ cương vị ủy viên Hội đồng địa phương. Giúp việc cho cảnh sát trưởng có đội ngũ nhân viên hoạt động chuyên môn, được gọi là các nhân viên Văn phòng cảnh sát trưởng (sheriff’s officer) hoặc nhân viên thi hành pháp luật (sheriff’s deputy). Tại một số khu vực của Hoa Kỳ, cảnh sát trưởng còn có thể chịu trách nhiệm thu thuế và do đó có thể có một số tên gọi khác như nhân viên thu thuế hoặc nhân viên kho bạc của quận.
Trên thực tế, mặc dù là một cơ quan nhà nước, có kinh phí hoạt động phần lớn là do ngân sách cấp hàng năm trên cơ sở dự toán, Văn phòng cảnh sát trưởng vẫn được coi là một đơn vị cung cấp dịch vụ trật tự công cộng và an ninh xã hội. Kinh phí hoạt động hàng năm của Văn phòng cảnh sát trưởng được cấp từ ngân sách địa phương. Các khoản thu có được từ dịch vụ cưỡng chế thi hành án nhìn chung không nhiều – cũng chứng tỏ sự tham gia của Văn phòng cảnh sát trưởng vào các hoạt động thi hành án dân sự tương đối hạn chế.
5. Thi hành án tử hình ở Hoa Kỳ
Điều 8 của Hiến pháp Mỹ quy định hình phạt tử hình chỉ dành cho tội giết người đặc biệt nghiêm trọng.
Vào năm 1972, Tòa án Tối cao đã bãi bỏ quy định này. Bốn năm sau, một số tiểu bang được phép sử dụng quy định này. Vào cuối những năm 1980, tất cả các tiểu bang đều được phép kết án tử hình, nhưng, kể từ năm 2003, không có vụ xử tử nào ở cấp liên bang.
Tại 20 tiểu bang ở Mỹ có lệnh cấm không chính thức về án tử hình liên bang, các tử tù đang thụ án chung thân. Còn 30 tiểu bang khác không quá nhân đạo. Năm 2019, 22 tên tội phạm đã bị xử tử tại Alabama, Georgia, Tennessee và Nam Dakota. Texas luôn dẫn đầu. Dưới thời George W.Bush làm Thống đốc bang Texas, 140 tên tội phạm đã bị kết án tử hình. Thống đốc bang chỉ quyết định đặc xá đối với một người.
Hiện nay, tiêm thuốc độc là hình thức được ưu tiên hàng đầu vì nó cho tử tù có một cái chết nhẹ nhàng và nhanh chóng. Chất độc được tiêm vào mạch máu giết chết con người trong vài phút. So với xử bắn hay phòng hơi ngạt, tiêm thuốc độc được cho là biện pháp tử hình nhân đạo nhất.
Khi thi hành án, tử tù bị buộc vào băng ca; hai ống thông tĩnh mạch được chọc vào hai cánh tay. Chỉ có một trong hai ống "làm nhiệm vụ" tử hình, ống còn lại có tính chất dự trữ để hỗ trợ khi ống chính thức xảy ra sự cố. Dĩ nhiên, người ta dùng dây cột chặt ống thông để chúng không bị sứt ra trong quá trình tiêm thuốc. Tay của tù nhân được bôi cồn bằng gạc trước khi ống thông được cắm vào tĩnh mạch.
Kim và các dụng cụ khác cũng được khử trùng. Sau đó, người ta truyền mấy giọt huyết thanh vào cả hai tay. Đây cũng là một thủ tục có tính tiêu chuẩn của ngành y nhằm xác định chắc chắn rằng hóa chất không lẫn trong tĩnh mạch và bít lỗ kim, ngăn cản đường chảy của thuốc. Người ta cũng gắn thiết bị đo tim để kiểm tra cái chết của tử tội. Tiếp đó là quá trình tiêm thuốc…
Nhưng, phương pháp này có thể gặp trục trặc khi vào mùa hè năm 2018, một sự cố ở Nevada cho thấy việc tiêm chất độc không đảm bảo cái chết nhanh chóng. Các nhân viên y tế tại nhà tù địa phương đã chuẩn bị thuốc độc. Tuy nhiên, công ty dược phẩm sản xuất đã phát hiện thiếu sót trong sản phẩm của mình và cấm dùng nó để tử hình. Chất độc này có thể gây co giật, nhưng tù nhân vẫn sống sót. Các nhân viên tại nhà tù đã được cảnh báo và vụ xử tử đã bị hoãn lại.
Năm năm trước, tại Oklahoma, tù nhân bị kết án tử hình đã bị tiêm ba loại thuốc độc gây tử vong ngay lập tức. Anh ta bất tỉnh, và các nhân viên bắt đầu chuẩn bị báo cáo về cái chết. Nhưng, tử tù đã… tỉnh dậy và nói lên vài lời. Song, anh ta vẫn chết vì cơn đau tim trên đường đến bệnh viện.