Căn cứ pháp lý:

- Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945;

- Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948;

- Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966;

- Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1959; Hiến pháp năm 1980; Hiến pháp năm 1992;

1. Quan niệm về Quyền Tư pháp độc lập

Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nền dân chủ, giá trị của văn minh nhân loại, một phương thức tổ chức quản lý xã hội đề cao pháp luật, dựa trên pháp luật để tổ chức bộ máy, sử dụng pháp luật để duy trì trật tự xã hội và trật tự công lý trong nhân dân. Do đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là xu hướng khách quan, một nhu cầu tất yếu đối với các Nhà nước trên thế giới. Việt Nam chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để tạo Lập một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quyền Tư pháp độc lập là một tiêu chí đánh giá Nhà nước pháp quyền bên cạnh các tiêu chí: sự tối thượng của pháp luật, đặc biệt là sự tối thượng của hiến pháp và cơ chế bảo vệ sự tối thượng của pháp luật, hiến pháp – bảo hiến; bảo đảm tính chất chính trị và pháp lý của luật pháp (dân chủ, công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi,…)… Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, Lập pháp và Hành pháp không có sự phân chia tuyệt đối với nhau và Hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực Lập pháp, thậm chí các hoạt động Lập pháp còn là nhu cầu của Hành pháp, do đó ý nghĩa của quyền Tư pháp độc lập là cơ sở cho việc Tòa án xét xử một cách công bằng, bảo vệ hiệu quả quyền con người. Montesquieu cho rằng “không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp”. Một nền Tư pháp độc lập là nền tảng cho sự thịnh vượng của các nền kinh tế bởi vì chỉ có Tư pháp độc lập công dân mới có thể mong đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động bất hợp pháp nào. Đặc biệt, quyền Tư pháp độc lập là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền bằng luật. Vì vậy, quyền Tư pháp độc lập trở tHành một nguyên tắc quan trọng được mọi hiến pháp của các nước dân chủ quy định.

2. Tư pháp độc lập ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tại Điều 69 của bản Hiến pháp đầu tiên của nền dân chủ cộng hòa – Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Đến Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận ở Điều 130: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách cụ thể hơn so với các bản Hiến pháp trước đây: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm”. Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập  xét xử là độc lập trong mọi hoạt động tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử, chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử”. Việc “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm” cũng là bảo đảm cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn.

Tầm quan trọng của quyền Tư pháp độc lập cũng đã được ghi nhận trong luật quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 xây dựng các điều kiện để công lý có thể được duy trì (bao hàm về tính độc lập của Tòa án). Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 quy định, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” (Điều 10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập , không thiên vị và được Lập ra trên cơ sở pháp luật” (khoản 1 Điều 14), “quyền được xét xử ngay mà không bị trì hoãn vô lý” (khoản 3 Điều 14).

3. Đặc trưng của Tư pháp độc lập

Quyền Tư pháp độc lập đòi hỏi sự khách quan và vô tư của người làm công tác xét xử. Thẩm phán phải là người được tự do thẩm định, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một tác động nào. Có hai khía cạnh về tính độc lập tư pháp là độc lập bên ngoài và độc lập bên trong. Độc lập với bên ngoài nghĩa là Tư pháp phải hoàn toàn độc lập với các cá nhân, cơ quan, tổ chức và những tác động khác ảnh hưởng đến tính đúng đắn, khách quan của cá nhân các Thẩm phán. Độc lập bên trong nghĩa là Thẩm phán phải độc lập  với đồng nghiệp xung quanh, các tHành viên Hội đồng xét xử, với cấp trên và ngay cả trước lợi ích cá nhân của bản thân họ. Sự vô tư của Thẩm phán khi xét xử đòi hỏi Thẩm phán có trách nhiệm trước pháp luật và với chính lương tâm của mình. Độc lập  tức là không được tác động đối với việc xét xử của Tòa án, vô tư là yêu cầu Tòa án không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động nào.

Tuy nhiên, quyền Tư pháp độc lập  không có nghĩa là độc lập  với mọi sự hạn chế, mà là sự độc lập được giới hạn bởi việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán. Đồng thời, chính việc tuân theo pháp luật là cơ sở vững chắc để đảm bảo cho sự độc lập của quyền Tư pháp. Nói cách khác, Tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Độc lập tư pháp và tuân theo pháp luật là hai nội dung không tách rời nhau. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến biệt Lập, tùy tiện. Chỉ tuân theo pháp luật mà không dựa trên quyền Tư pháp độc lập có thể tạo ra sự cứng nhắc, máy móc. Quyền Tư pháp độc lập là điều kiện tiên quyết để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý. Quyền tư pháp tuân theo pháp luật điều kiện bắt buộc bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng đắn quyền tư pháp.

4. Tại sao phải bảo đảm tư pháp độc lập?

Sự cần thiết của tư pháp độc lập được đề cập khá cụ thể trong nghiên cứu của Theodor Meron. Theo Theodor Meron, tư pháp độc lập là nội dung cơ bản của NNPQ bởi khi Thẩm phán độc lập từ những áp lực chính trị hay áp lực khác, họ sẽ giải quyết tranh chấp một cách công bằng, theo hướng dẫn của pháp luật. Điều đó mang đến các tác dụng:

Thứ nhất, nó cần thiết và đóng góp lớn cho sự ổn định chính trị và sự giàu có của nền kinh tế một quốc gia khi các nhà kinh tế và chính trị yên tâm có trọng tài công bằng giải quyết các tranh chấp của họ theo luật và các quy định đã được ghi nhận. Thẩm phán đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án và giải thích, làm rõ sự tồn tại của luật và các quy tắc. Khi Thẩm phán độc lập và hành xử theo pháp luật, sự giải thích của họ là hợp lý bởi họ dựa trên luật đang tồn tại và các án lệ trước đó cũng như logic.

Thứ hai, tư pháp độc lập cũng cần thiết cho việc bảo vệ hiệu quả quyền con người - cơ sở vững chắc của bất kỳ một xã hội tự do nào. Những quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp hay các luật của một đất nước, nhưng phải tồn tại một quyền lực, ví dụ như tòa án, xét xử độc lập và khách quan các khiếu kiện của công dân, và trong trường hợp cần thiết, phán quyết rằng sự xâm phạm trái pháp luật quyền của công dân phải được đánh giá hợp lý.

Và cuối cùng, vai trò quan trọng nhất, sự độc lập của Thẩm phán và tòa án là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền bằng luật. Trong trường hợp chính phủ là một bên của khiếu kiện, nguyên tắc quan trọng của NNPQ là không ai có thể là Thẩm phán trong vụ án của anh ta, vì vậy phải tồn tại một cơ quan độc lập như tòa án, cơ quan có quyền lực để quyết định chính quyền đã xâm phạm hạn chế pháp lý.

5. Độc lập tư pháp và bảo vệ công lý

Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, giữ chủ quyền đại diện cho công lý, có nhiệm vụ đứng ra làm trọng tài, đưa ra những phán quyết đúng sai giữa các tư nhân và đặc biệt là giữa tư nhân với cơ quan công quyền. Để có thể đảm nhận được nhiệm vụ “bảo vệ công lý”, tòa án phải giữ một vị trí, tư thế độc lập, một cương vị đứng ngoài cuộc trong một mức độ nào đó. Do đó, nguyên tắc tư pháp độc lập là nguyên tắc mang tính cốt lõi để tòa án thực thi công lý.

Đối với một cơ quan tư pháp độc lập thì mọi thực thể xã hội có yếu tố con người vật chất đều là đối tượng điều chỉnh của nó, đó là cá thể công dân và các quan hệ của họ, là các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…, và là bản thân nhà nước với các cơ quan cũng như con người cụ thể trong bộ máy này. Theo Montesquieu, “công lý không thể có được trong một xã hội mà cơ quan tư pháp phải phục tùng sự chuyên quyền, lạm quyền của bộ máy quyền lực nhà nước”. Khác với chế độ quân chủ, trong nhà nước dân chủ không một lĩnh vực nào của cuộc sống bị loại trừ ra khỏi vòng xét xử của tòa án. Chính vì vậy, ông mạnh mẽ khẳng định “Tòa án không thể là công cụ trong tay chủ thể quyền lực khi chính chủ thể đó không là đối tượng của cơ quan tư pháp”.

Có thể nói, tư pháp được quan niệm là ý tưởng cao đẹp về một nền công lý và việc giải quyết các tranh chấp trong xã hội đúng với pháp luật, hợp lẽ công bằng, đồng thời, nó cũng là biểu hiện giá trị niềm tin của nhân dân vào pháp luật. Để mang lại niềm tin đó, tòa án phải độc lập thì mới có khả năng phán xét mọi tranh chấp của xã hội, từ những tranh chấp giữa các cá nhân cho đến hành vi vi phạm của cơ quan công quyền. Tính độc lập của tòa án không phải là mục đích tự thân mà là phương tiện để đạt mục đích của mình là bảo vệ công lý. “Tòa án phải chứng tỏ được tính độc lập và mong muốn bảo vệ quyền công dân tới mức mà cả các nhà chính trị lẫn dân chúng đều tự cảm thấy là phải tuân theo phán xét”.

Chân lý khách quan phải được xác định thông qua hoạt động xét xử của tòa án. Muốn vậy Tòa án khi xét xử cần phải độc lập, khách quan, vô tư, trong sáng, tôn trọng sự thật thì mới bảo vệ được công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ của nhà nước. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này, tòa án nhân dân - cơ quan thực hiện quyền tư pháp, phải là một cơ quan độc lập với vị trí trọng tài và phán xét trong tranh chấp giữa người dân với các cơ quan công quyền khi đưa ra trước tòa. Có thể nói, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý, chỉ có độc lập trong tư pháp mới giúp Tòa án nhân dân có đủ ý chí và quyết tâm bảo vệ công lý.

Tính độc lập của tòa án phải gắn liền với thực thi quyền tư pháp, cho phép các vị thẩm phán, để bảo vệ công lý, có thể đưa ra những phán quyết đi ngược lại quyền lợi của các ngành khác của chính quyền. Trong trường hợp này, để có tiếng nói vô tư, không thiên vị, không sợ hãi khi thực thi quyền lực thì Tòa án phải độc lập, các lĩnh vực hoạt động của ngành phải được bảo vệ trước mọi ảnh hưởng của các cơ quan khác, bất kể công khai hay bí mật. Tính độc lập của Tòa án chính là chỗ dựa khơi nguồn cho lòng dũng cảm cần thiết để phụng sự các giá trị của nhà nước pháp quyền, đồng thời mang lại cho người dân niềm tin lớn lao và vững chắc hơn vào Tòa án trong quá trình bảo vệ công lý. Tại nhiều quốc gia, một Hội đồng tư pháp quốc gia được thành lập để đảm bảo sự khách quan, tránh sự can thiệp vào mọi phía, mọi khâu, từ quá trình lựa chọn thẩm phán, nguyên tắc đạo đức cho đến phòng chống tham nhũng, đảm bảo thu nhập, bảo vệ an ninh...

Bài viết tham khảo:

1. “Độc lập tư pháp” là điều kiện tiên quyết để Tòa án nhân dân thực hiện nhiệm vụ “bảo vệ công lý”; Ths. Nguyễn Xuân Tùng, Chánh Văn phòng Tổng cục THADS (Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp);

2. Quyền Tư pháp và một số nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN VN; Phí Thành Chung (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội) - Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử