1. Sự cần thiết của bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư hay còn gọi là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật theo quy định tại Luật Kinh doanh bảo hiểm là loại bảo hiểm bắt buộc do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

Trong thực tiễn hành nghề luật sư, đã có nhiều trường hợp khách hàng khiếu nại về những thiệt hại nảy sinh từ việc tư vấn pháp luật không đúng của luật sư, về việc luật sư làm mất tài liệu, chứng từ có giá trị... Vì thế, nhu cầu về việc luật sư có nghĩa vụ phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp không chỉ xuất phát từ sự đảm bảo việc bồi thường cho khách hàng khi luật sư tư vấn sai, sai phạm trách nhiệm nghề nghiệp do bất cẩn hoặc khinh suất phạm phải, mà còn nâng cao uy tín xã hội của chính luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, tạo được sự tin cậy nơi khách hàng đến nhờ tư vấn.

2. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư

Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư là thoả thuận giữa luật sư và một Công ty bảo hiểm hoạt động phù hợp với Luật doanh nghiệp và Luật kinh doanh bảo hiểm, trong đó xác định, khi phát sinh sự kiện bảo hiểm, người được bảo hiểm khiếu nại và được Công ty bảo hiểm đền bù với hạn mức bồi thường hai bên đã thoả thuận, hạn mức bồi thường, những trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Thỏa thuận này bao gồm các điều khoản, hạn mức trách nhiệm, các điểm loại trừ và các điều kiện khác được quy định trong Đơn bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm và trên cơ sở người được bảo hiểm đã nộp đủ tiền bảo hiểm.

Lưu ý: Công ty bảo hiểm chỉ có thể bồi thường cho người được bảo hiểm các trách nhiệm pháp lý phát sinh do “vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp luật sư”, dù đó là nghĩa vụ theo hợp đồng hay phát sinh bởi bất kỳ hành động bất cẩn, sai lầm hoặc thiếu sót nào do người được bảo hiểm, các nhân viên trực thuộc quyền quản lý của người được bảo hiểm, các chi nhánh trực thuộc…

Người bảo hiểm chấp nhận bồi thường cho người được bảo hiểm, nhưng không vượt quá hạn mức trách nhiệm quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm:

(1) Trong giới hạn trách nhiệm bồi thường quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm đối với các khoản tiền mà người được bảo hiểm có trách nhiệm pháp lý phải thanh toán phát sinh từ bất kỳ yêu cầu bồi thường nào được đưa ra lần đầu tiên bằng văn bản trong thời hạn bảo hiểm quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, do sai phạm trách nhiệm nghề nghiệp quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm do bất cẩn, sai sót hoặc khinh suất phạm phải hoặc được cho là phạm phải trong thời gian hiệu lực của hợp đồng (và thời gian có hiệu lực trở về trước, nếu được quy định) và trong phạm vi lãnh thổ được quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm, của:

a) Người được bảo hiểm và, hoặc

b) Bất kỳ nhân viên nào của người được bảo hiểm khi thực hiện nghiệp vụ nhân danh người được bảo hiểm trong khả năng nghề nghiệp quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm (kể cả các nghiệp vụ với tư cách là người thừa hành, quản lý hoặc thanh toán, nếu được quy định, miễn là các hoạt động này cấu thành một phần thu nhập của người được bảo hiểm);

(2) Các khoản chi phí người được bảo hiểm đã chi ra với sự đồng ý bằng văn bản của người bảo hiểm để biện hộ và/hoặc giải quyết bồi thường.

Tuy nhiên, trường hợp người được bảo hiểm phải trả một số tiền vượt quá giới hạn trách nhiệm quy định trong đơn bảo hiểm để giải quyết bồi thường, trách nhiệm của người bảo hiểm đối với các khoản chi phí, phí tổn này sẽ là tỷ lệ tiền bồi thường quy định trong đơn bảo hiểm trên tổng chi phí người được bảo hiểm phải chi để giải quyết bồi thường.

3. Các sự kiện phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Công ty bảo hiểm sẽ chi trả toàn bộ chi phí bồi thường và các phí tổn chi trả cho người được bảo hiểm đối với mỗi một sự cố, theo hạn mức bồi thường được nêu trong phụ lục đính kèm hợp đồng bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ thực hiện trách nhiệm bồi thường đối với các khiếu nại phát sinh trong thời hạn quy định của đơn bảo hiểm; người được bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho Công ty bảo hiểm. Các trường hợp được coi là sự kiện phát sinh trách nhiệm của Công ty bảo hiểm chi trả các khoản bồi thường cho người được bảo hiểm, có thể bao gồm:

- Trách nhiệm pháp lý phát sinh vì những điều lăng mạ hoặc vu khống do những văn bản hoặc lời nói của người được bảo hiểm, hoặc nhân viên của người được bảo hiểm.

- Trách nhiệm pháp lý phát sinh từ sự kiện mất mát, bị tịch thu hoặc bị hư hỏng đối với các tài liệu thuộc quyền nắm giữ hoặc kiểm soát của người được bảo hiểm hoặc từ bất kỳ một cơ sở hoạt động nào; hoặc đang trong quá trình chuyển giao cho người nhận hay người đại diện của họ ở bất kỳ nơi nào bằng con đường bưu điện.

Giới hạn bồi thường được xác định theo các trường hợp: Sự cố khiếu nại bồi thường một lần và sự cố khiếu nại bồi thường nhiều lần theo hạn mức trách nhiệm, theo đó trách nhiệm bồi thường của người bảo hiểm đối với các khoản chi phí phải trả liên quan đến các khiếu nại bồi thường trong thời hạn hợp đồng sẽ không vượt quá hạn mức trách nhiệm quy định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.

4. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

Các khiếu nại về những tổn thất có hậu quả khác nhau xuất phát từ một hành động sơ suất, thiếu sót hoặc nhầm lẫn, nhưng sẽ không được công ty bảo hiểm bồi thường cho bất kỳ khiếu nại nào phát sinh từ:

- Hành động bất cẩn, sai sót hoặc khinh suất liên quan đến công việc, nghiệp vụ thực hiện vượt quá khả năng chuyên môn của một luật sư theo quy định của pháp luật và các quy tắc đạo lý;

- Sự sắp xếp hoặc khuyến nghị- cho dù có lý do hay không- liên quan đến bất động sản, các vấn đề tài chính và thương mại, trách nhiệm bảo hiểm sẽ không được áp dụng nếu khiếu nại bồi thường phát sinh từ lời khuyên sai lầm về các vấn đề liên quan đến thuế;

- Hiểu sai hoặc ứng dụng sai hoặc không tuân thủ các quy định pháp chế của nước ngoài;

- Sai phạm hoặc vi phạm trách nhiệm liên quan đến việc quản lý sổ sách, kế toán hoặc chuyển giao tài chính hoặc hành vi tham ô của nhân viên do người bảo hiểm được thuê mướn;

- Các khiếu nại bồi thường phát sinh từ các hoạt động của người được bảo hiểm với tư cách người đứng đầu hoặc thành viên hoặc chuyên viên pháp chế của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát của công ty tư nhân, câu lạc bộ, hiệp hội;

- Phỉ báng hoặc vu cáo;

- Hành vi bất cẩn, sai sót hoặc khinh suất của người được bảo hiểm khi mua hoặc duy trì hợp đồng bảo hiểm;

- Người được bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản;

- Đánh mất tài liệu (chứa đựng bất cứ nội dung nào) tự viết, in ấn hoặc sao chép bằng bất kỳ phương tiện nào hoặc thông tin điện tử hoặc lưu trữ trong máy vi tính hoặc tài liệu bị đánh mất, để thất lạc hoặc bị tiêu huỷ trong khi được giao phó, hoặc trong phạm vi quản lý, trông nom hoặc kiểm soát của người được bảo hiểm;

- Hành vi chủ ý, ác tâm, không trung thực hoặc trái luật của người được bảo hiểm hoặc nhân viên của người được bảo hiểm;

- Thương tật, thiệt hại tài sản hoặc tổn thất mang tính hậu quả của các hành động trên;

- Tổn thất tài chính trực tiếp, gián tiếp hoặc được xem là gây ra bởi hoặc được quy cho, hoặc phát sinh từ việc ô nhiễm không khí, nguồn nước hoặc đất;

- Hậu quả của chiến tranh, xâm lược, hành động thù địch của nước ngoài (có tuyên chiến hay không tuyên chiến), nội chiến, khủng bố, nổi loạn, cách mạng, nổi dậy hoặc đảo chính;

- Thiệt hại do bị phạt, trừng phạt hoặc cảnh cáo hoặc các thiệt hại khác phát sinh do tăng thiệt hại bồi thường;

- Trách nhiệm người được bảo hiểm phải gánh chịu theo hợp đồng hoặc các thoả thuận khác (kể cả cam kết hoặc bảo đảm được quy định rõ ràng hoặc ngụ ý), trừ khi trách nhiệm này được gán cho không có quy định trong hợp đồng hoặc thoả thuận;

- Các khiếu nại bồi thường giữa những người được bảo hiểm theo quy định trong đơn bảo hiểm hoặc bởi bất kỳ bên nào trực tiếp hoặc gián tiếp được sở hữu, kiểm soát, điều hành hoặc quản lý bởi người được bảo hiểm, trong đó người được bảo hiểm là một đối tác, cố vấn hoặc nhân viên hoặc là thành viên gia đình (kể cả chồng/vợ...).

5. Mức phí bảo hiểm

Hiện chỉ có một số doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được phép kinh doanh loại hình bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, như tại Tp.HCM có 23 doanh nghiệp, tại Hà Nội có 07 doanh nghiệp…theo hướng dẫn tại Công văn 3103/BTP-BTTP năm 2014 hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư mức phí tầm vài trăm ngàn đến vài triệu đồng cho một luật sư trên một năm.

6. Thủ tục giải quyết các khiếu nại liên quan đến hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp xảy ra bất kỳ sự kiện hoặc tình huống nào có thể dẫn đến một khiếu nại được bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải thông báo ngay lập tức bằng văn bản cho công ty bảo hiểm. Nếu những thông báo này được thực hiện không quá 30 ngày kể từ ngày hết hạn của đơn bảo hiểm, thì bất cứ khiếu nại nào phát sinh từ các sự kiện hoặc tình huống nêu trên, được lập trong vòng 36 tháng kể từ ngày hết hạn nêu trong phụ lục của đơn bảo hiểm, trong phạm vi của đơn bảo hiểm, sẽ được coi như đã được lập trong thời hạn hiệu lực của đơn bảo hiểm.

Về mặt nguyên tắc, người được bảo hiểm không được thừa nhận trách nhiệm hoặc giải quyết, thực hiện, hứa hẹn việc thanh toán bất cứ khoản tiền nào liên quan đến bất cứ khiếu nại nào có thể được coi như khoản bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm, khi chưa có sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty bảo hiểm - người được phép tiếp quản và kiểm soát trên danh nghĩa của người được bảo hiểm, việc bào chữa và/hoặc giải quyết bất kỳ khiếu nại nào nêu trên, và cũng vì mục đích đó, người được bảo hiểm phải cung cấp toàn bộ thông tin và hỗ trợ khi được công ty bảo hiểm có yêu cầu hợp lý. Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chấp thuận cách thức giải quyết khiếu nại theo đề nghị của Công ty bảo hiểm và lựa chọn tiếp tục thoả thuận hoặc tiến hành bất kỳ thủ tục pháp lý nào, khi đó trách nhiệm của công ty bảo hiểm sẽ không vượt quá số tiền mà lẽ ra đã có thể được giải quyết để chi trả cho khiếu nại cộng với chi phí và các phí tổn đã phát sinh với sự đồng ý của công ty bảo hiểm cho đến ngày người được bảo hiểm từ chối việc giải quyết mà công ty bảo hiểm đưa ra.

Người được bảo hiểm vào bất cứ thời điểm nào phải duy trì việc lập hồ sơ mô tả chính xác toàn bộ những dịch vụ chuyên môn nhằm bảo đảm các hồ sơ luôn sẵn có cho việc kiểm tra và sử dụng bởi công ty bảo hiểm hoặc người đại diện được công ty bảo hiểm chỉ định cho tới mức độ giới hạn liên quan đến bất kỳ khiếu nại nào theo đơn bảo hiểm đã ký; cung cấp những thông tin, hỗ trợ và các báo cáo khi công ty bảo hiểm yêu cầu; và bằng chi phí của mình hỗ trợ quá trình bảo vệ trước bất cứ khiếu nại nào nhưng không tính chi phí đối với người bảo hiểm.

Trong trường hợp phát sinh bất kỳ tranh chấp nào giữa người được bảo hiểm và công ty bảo hiểm thì những tranh chấp đó sẽ được phán xử theo pháp luật quốc gia nơi đặt trụ sở công ty bảo hiểm và chỉ có tòa án có thẩm quyền này mới có quyền tài phán đối với các tranh chấp nói trên. Nếu người được bảo hiểm tiến hành bất kỳ khiếu nại nào với mục đích lừa đảo hoặc không trung thực thì thoả thuận bảo hiểm sẽ trở nên vô hiệu và người được bảo hiểm sẽ mất quyền đòi bồi thường về toàn bộ những khiếu nại theo hợp đồng bảo hiểm.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)