Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, Luật sư hãy cho tôi biết những bất cập của hoạt động giải quyết các khiếu kiện hành chính của giai đoạn trước năm 2008 là gì?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

1. Khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Cơ sở pháp lý: Điều 11, Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam, từ khi ra đời cho đến nay, thẩm quyền theo loại việc được quy định bằng phương pháp liệt kê kết hợp với phương pháp viện dẫn. Theo phương pháp này, trước hết Pháp lệnh hệt kê một danh sách các loại việc quản lý hành chính mà khi bị khiếu kiện thì Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết; sau đó quy định viện dẫn ghi nhận thẩm quyền của Tòa án đối với những khiêu kiện khác khi mà pháp luật điều chỉnh lĩnh vực đó ghi nhận dù loại việc đó không/chưa được nêu trong Pháp lệnh. Qua hai lần sửa đổi bổ sung Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án hành chính, phạm vi các loại việc quản lý thuôc thẩm quyền xét xử của Toà án đều được mở rộng. Hiện tại, phạm vi này được xác định tại Điều 11 Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Theo điều 11 của pháp lệnh, khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm 22 trường hợp và tương ứng với 22 khoản của điều luật.

 

2. Bất cập về phía Tòa án

Về phía Tòa án: Xét xử các vụ án hành chính là một lĩnh vực rất mới. Đội ngũ thẩm phán, cán bộ, công chức của Tòa hành chính Tòa án nhân dân các cấp chưa được đào tạo, bồi dưỡng nhiều về nghiệp vụ giải quyết các vụ án hành chính cũng như kiến thức về quản lý hành chính Nhà nước có liên quan đến những lĩnh vực mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý đất đai vẫn còn có cán bộ Tòa án chưa thực sự nắm vững các quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo, của Luật Đất đai, của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các văn bản hưống dẫn chuyên ngành; các thẩm phán (đặc biệt là thẩm phán cấp huyện) chưa nắm bắt một cách đầy đủ các văn bản pháp luật về quản lý hành chính nhà nước liên quan đến những loại quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện mà mình đang thụ lý. Trong công tác chuyên môn còn vi phạm về điều kiện khỏi kiện và điều kiện thụ lý, giải quyết các vụ án hành chính; có nhiều vụ việc (nhất là trong việc tranh chấp, khiếu kiện về quyền sử dụng đất đã được cấp giấy chứng nhận) chưa phân định thẩm quyền loại việc của cơ quan hành chính nhà nưốc và cơ quan Tòa án; thời gian giải quyết các vụ án chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Đường lối giải quyết một số vụ án không đúng dẫn đến phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật, giao cấp phúc thẩm hoặc sơ thẩm giải quyết lại. Vì vậy, có bộ phận công dân còn nghỉ ngại trưốc khi chọn con đường khỏi kiện tại Tòa án.

Tuy nhiên, xem xét nguyên nhân, vấn đề đặt ra là có thật sự đội ngũ thẩm phán tòa hành chính - như đánh giá của một số người - vốn là đội ngũ yếu, kém về chuyên môn, mỏng về đạp đức... hay là có một cơ chế nào đó làm người ta kém đi hoặc không thể phát huy được năng lực, không thể chỉ tuân theo pháp luật được. Ớ đây thực sự có ràng buộc của nhiều vấn đề mà trước hết là quy trình và nhiệm kỳ bổ nhiệm thẩm phán. Đồng thời, cũng phải kể đến sự khó khăn trong hoạt động xét xử của thẩm phán khi mà hệ thống văn bản pháp luật đang tồn tại tính trạng chồng chéo, không phù hợp vối thực tiễn sinh động và luôn biến đổi của đời sống.

Theo Báo cáo tổng kết công tác của năm 2009 của ngành Tòa án nhân dân: "Trong năm 2009, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 1.557 vụ án hành chính; đã giải quyết, xét xử được 1.299 vụ, đạt 83,4%. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 869 vụ, theo thủ tục phúc thẩm 403 vụ và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 27 vụ. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 6,92% (do nguyên nhân chủ quan là 5,85% và do nguyên nhân khách quan là 1,07%), bị sửa là 4,77% (do nguyên nhân chủ quan là 4.31%, và do nguyên nhân khách quan là 0,46%). So với cũng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy tăng 2,33% và tỷ lệ bị sửa giảm 1,23%".

Một trong những nguyên nhân khách quan làm tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy tăng; bản án, quyết định bị sửa giảm là Pháp lệnh Thủ tực giải quyết các vụ án hành chính được sủa đổi, bổ sung năm 2006 bỏ thẩm quyền "sửa đổi một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghỊ"(Jữnoả.n 2 Điều 72) của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

 

3. Bất cập về phía công dân

Về phía công dân, họ do không nắm vững được những quy định của pháp luật, cho rằng tất cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý hành chính nhà nưốc nếu họ không đồng ý thì đều có quyền khởi kiện tại Toà án, hoặc là không cần khiếu nại với cơ quan hành chính cũng được khởi kiện tại Tòa án, hoặc là trong một số vụ việc không có quyết định giải quyết khiếu nại cũng kiện tại Tòa án.

Vì vậy, khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện họ không hài lòng, thậm chí rất bức xúc. Nhiều bản án đã được giải quyết đúng pháp luật, thấu lý, đạt tình đã được các cơ quan có thẩm quyền xem xét nhưng người dân vẫn không hài lòng, tiếp tục khiếu nại, khiếu nại đông người đến các cơ quan Đảng, Nhà nước, Quốc hội.

 

4. Bất cập về phía cơ quan hành chính nhà nước

Từ phía cơ quan hành chính nhà nước: Cơ chế giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo còn mang nặng tính hành chính; quá trình giải quyết khiếu nại hầu như khép kín trong các cơ quan hành chính nhà nước dẫn đến việc giải quyết khiếu nại thiếu khách quan. Trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính không ít trường hợp người bị kiện - là cơ quan hành chính nhà nước - không thực hiện đúng nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng hành chính mà pháp luật đã quy định như: không cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu, chứng cứ có liên quan; không có ý kiến giải trình; không có mặt theo yêu cầu của Tòa án, thậm chí trong một số vụ việc còn có thái độ phản ứng, không hợp tác vối cơ quan Tòa án.

Pháp luật có quy định về việc phối kết hợp trong việc giải quyết các vụ án hành chính giữa cơ quan đã ra quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính với cơ quan Tòa án, nhưng trong quá trình giải quyết vụ việc còn có sự thiếu sót trong vấn đề này.

Tại Điểm a và Điểm b Khoản 1 Điều 13 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính quy định: khi công dân vừa khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền, vừa khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai, thì việc giải quyết thuộc thẩm quyền của Tòa án; cơ quan đã thụ lý việc giải quyết khiếu nại phải chuyển toàn bộ hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án có thẩm quyền. Nhưng gặp những trường hựp như đã nêu, ở một số vụ án, cơ quan hành chính đã không thông báo cho Tòa án và chuyển hồ sơ giải quyết khiếu nại cho Tòa án có thẩm quyền, nên dẫn đến việc cả 2 cơ quan đều thụ lý, giải quyết khiếu nại và khỏi kiện đối với cùng một đối tượng (quyết định hành chính, hành vi hành chính).

Theo quy định của pháp luật thì trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính, người bị kiện có quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định hành chính. Thực tế, ở một số vụ án cơ quan hành chính đã sử dụng quá nhiều quyền này như thu hồi, hủy bỏ, ra quyết định mới có nội dung trái với quyết định ban đầu hoặc lại trở về quyết định ban đầu.

Điều đó làm cho vụ việc khiếu kiện kéo dài trong nhiều năm. Luật Khiếu nại, tố cáo quy định trong thời hạn nhất định, cơ quan hành chính phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại (nhất là đốì vối quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai phải có quyết định giải quyết khiếu nại thì Tòa án mới có thẩm quyền thụ lý), nhưng cơ quan hành chính đã không tuân thủ pháp luật gây khó khăn cho việc thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính của công dân.

Thậm chí, có trường hợp, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại nhưng khi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính thì không nhận quyết định đã ban hành đó là quyết định giải quyết khiếu nại để Tòa án không thụ lý được vụ án.

Trong việc giải quyết khiếu nại ở đâu đó vẫn còn hiện tượng cơ quan hành chính né tránh trách nhiệm, đùn đẩy việc trả lời khiếu nại. Luật Khiếu nại, tố cáo cũng có quy định nếu trong thời hạn giải quyết khiếu nại (được quy định trong Luật này) mà người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại không giải quyết thì phải bị xem xét xử lý kỷ luật, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện quy định này.

Một số trường hợp, xét thấy trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nưốc có sai lầm nghiêm trọng nên Tòa án đã tuyên hủy quyết định hành chính bị khiếu kiện. Tuy nhiên, có trường hợp Tòa án đã tuyên hủy quyết định hành chính trái pháp luật (bị khiếu kiện), để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định mới thay thế, nhưng cơ quan hành chính nhà nước không ban hành quỳết định mới và pháp luật chưa quy định chế tài xử lý đôì vổi trường hợp này. Ngoài ra, trong một số quyết định hành chính do không nắm vững những quy định của pháp luật, nên người ban hành quyết định hành chính đã xác định đương sự có quyền khỏi kiện tại Tòa án, mà thực chất đối với loại quyết định hành chính này đương sự không có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền.

Ở một số vụ án hành chính tuy đã có hiệu lực pháp luật từ lâu, lẽ ra cơ quan hành chính phải tổ chức thi hành để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, nhưng có trường hợp những người kế thừa mới không những không tổ chức thi hành án mà còn đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại tính hợp pháp của quyết định hành chính mà trước đó người tiền nhiệm đã ban hành và đã được Bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án công nhận tính hợp pháp của quyết định đó.

Từ những bất cập trên, dẫn đến việc hoạt động xét xử của Tòa án chưa phản ánh được thực chất, thực trạng tình hình khiếu nại hành chính ở nưốc ta, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai. Tình hình trên đã gây nên sự hoài nghi trong dư luận, trong quần chúng nhân dân về tính hiệu quả của việc giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nưóc ta hiện nay.

 

5. Nguyên nhân gây ra thực trạng những bất cập ở trên

Chúng ta có thể kể đến những nguyên nhân sau:

- Thứ nhất, khiếu kiện hành chính là một vấn đề mới mẻ, trong khi đó, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khiếu kiện hành chính còn chưa được chú trọng đúng mức, người dân không nắm được quyền khiếu kiện của mình; mặt khác, tâm lý ngại kiện tụng còn nặng trong nhân dân.

- Thứ hai, pháp luật tố tụng hành chính hiện hành còn quy định nhiều đỉều kiện ràng buộc không phù hợp làm cản trở quyền khiêu kiện ra Toà án của công dân, tổ chức như muốn thụ lý để giải quyết, người khởi kiện phải trải qua giai đoạn tiền tố tụng; thời hiệu khởi kiện ra toà quá ngắn. Những quy định này vừa hạn chế quyền khiếu kiện chính đáng của công dân, tổ chức, vừa "trói buộc" khả năng giải quyết khiếu kiện hành chính của Toà án nhân dân; cấp có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu thường dây dưa kéo dài hoặc không xem xét giải quyết khiếu nại, làm cho đương sự không thể thực hiện được quyền khiếu kiện ra Toà án;

- Thứ ba, phạm vi khiếu nại hành chính trong quần chúng nhân dân là rất rộng lớn, số lượng vụ việc ngày càng nhiều, nhưng thẩm quyền Toà án được giao giải quyết mối chỉ có lúc đầu là 10 loại việc gần đây mới tăng lên là 22 loại việc (trong đó lĩnh vực quản lý đất đai chỉ có 4 nhóm quyết định hành chính, hành vi hành chính) đã hạn chế việc chọn phương cách giải quyết khiếu nại bằng việc khởi kiện tại Toà án nhân dân.

- Thứ tư, mô hình tổ chức xét xử hành chính theo pháp luật hiện hành tạo sự phụ thuộc lớn của Toà án vào các cấp chính quyền địa phương. Việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của người bị kiện trong vụ án hành chính chưa nghiêm minh.

- Thứ năm, kinh nghiệm xét xử vụ án hành chính còn ít, trình độ hiểu biết về quản lý hành chính nhà nước, về pháp luật hành chính còn hạn chế, khó khăn về điều kiện cập nhật các quy định của pháp luật về hành chính trong quá trình cải cách hành chính hiện nay của các thẩm phán được giao xét xử hành chính, cùng với những điều kiện vật chất còn hạn hẹp khác đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả giải quyết các vụ án hành chính của Toà án nhân dân.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).