1. Bệnh cấp tính là gì?
Bệnh cấp tính dùng để chỉ những bệnh khởi phát đột ngột, xảy ra trong một khoảng thời gian giới hạn và thường có diễn biến nặng.
Một căn bệnh được mô tả là cấp tính biểu thị rằng nó có thời gian ngắn, như là một hệ quả vừa khởi phát gần đây. Việc định lượng thời gian như thế nào là “ngắn” và “gần đây” có thể thay đổi theo từng bệnh cụ thể và thay đổi theo ngữ cảnh. Nhưng điều cốt lõi của “cấp tính” luôn trái ngược với bệnh mạn tính - biểu thị bệnh kéo dài.
Từ “cấp tính” cũng bao hàm hai ý nghĩa khác đó là khởi phát đột ngột và mức độ nghiêm trọng, không thể lường trước được thời gian phát bệnh cũng như mức độ nghiêm trọng của nó. Như trong bệnh nhồi máu cơ tim cấp tính (AMI) thì có cả hai yếu tố đột ngột và nghiêm trọng của một bệnh cấp tính. Tuy nhiên, không phải trường hợp cấp tính nào cũng có biến chứng nghiêm trọng như vậy.
Cấp tính thường dùng để chỉ những tình trạng tối cấp bách như trong nhồi máu cơ tim cấp tính, nhưng không phải lúc nào nó cũng là nghiêm trọng như vậy. Ví dụ như bệnh viêm mũi cấp tính thường đồng nghĩa với tình trạng cảm lạnh thông thường, đây là một bệnh cấp tính nhưng không nghiêm trọng. Tuy mức độ nghiêm trọng của bệnh nhồi máu cơ tim cấp tính và viêm mũi cấp tính không giống nhau nhưng chúng đều là bệnh cấp tính vì thời gian xảy ra bệnh thường rất ngắn và đột ngột, khác hoàn toàn với sự diễn biến lâu dài của bệnh mãn tính. Bệnh cũng có thể xảy ra một hay vài lần nữa nhưng chúng không diễn ra theo một chu kỳ nhất định nào cả.
Từ cấp tính còn được sử dụng để chỉ diễn biến của một giai đoạn nào đó ở người bệnh. Đôi khi “cấp tính” cũng được sử dụng trong định nghĩa của một số bệnh như bạch cầu cấp tính, hội chứng hô hấp cấp, viêm gan cấp tính... để phân biệt với các dạng mãn tính của căn bệnh đó hoặc để làm nổi bật diễn biến bất ngờ trong quá trình điều trị.
Hiện có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh cấp tính, đột ngột và nghiêm trọng. Tuy nhiên, thông thường thì bệnh cấp tính do virus, vi khuẩn hoặc một loại nhiễm trùng khác gây ra. Bệnh cũng có thể do chấn thương như ngã, tai nạn ô tô, hoặc do lạm dụng thuốc gây ra. Ngoài ra, bệnh cấp tính cũng có thể do những nguyên khác xuất phát từ trong cơ thể bệnh nhân như trong nhồi máu cơ tim cấp, nguyên nhân là do cục máu đông đã hình thành trong cơ thể trước đó, di chuyển đến và làm tắc một nhánh của động mạch vành cung cấp máu nuôi dưỡng cho tim.
2. Các bệnh cấp tính thường gặp?
Bệnh cấp tính có thể chia thành hai loại bao gồm:
Bệnh cấp tính nhẹ: Các bệnh cấp tính nhẹ là những tình trạng bệnh có thể tự khỏi hoặc dễ được chữa khỏi. Một số bệnh cấp tính nhẹ chúng ta thường gặp gồm có:
- Bệnh cơ xương khớp: chấn thương, đau lưng cấp, bệnh gút,...
- Bệnh hô hấp: nhiễm trùng đường hô hấp trên, bệnh nhân có các biểu hiện như ho và cảm lạnh, đau tại, đau họng, chóng mặt,...
- Bệnh tiêu hóa: khó tiêu, tiêu chảy, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng cấp tính, táo bón,....
- Bệnh thần kinh: chóng mặt, nhức đầu, đau nhói,...
- Bệnh da liễu: phát ban, dị ứng nổi mề đay, ngứa,...
- Bệnh tim mạch: nhịp tim không đều (đánh trống ngực), lạnh tứ chi, sưng mắt cá chân,...
Bệnh nặng cấp tính có thể là biểu hiện cấp của một bệnh mạn tính tiềm ẩn như nhồi máu cơ tim hoặc hôn mê do tiểu đường, hoặc sự khởi phát đột ngột của một tình trạng trước đó chưa được chuẩn đoán như động kinh hoặc đột quỵ. Khi gặp tình trạng bệnh cấp tính nặng thì bệnh nhân bắt buộc phải được thăm khám, điều trị vì đây là những tình trạng có thể đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng của bệnh nhân. Thông thường, bệnh nặng cấp tính sẽ được chia thành các dạng sau:
- Triệu chứng báo động: là bệnh nhân có những dấu hiệu của một khả năng gặp phải vấn đề nghiêm trọng tiềm ẩn, bắt buộc phải được kiểm tra và theo dõi.
- Bệnh nghiêm trọng cấp tính: là loại bệnh cấp tính trong đó bệnh tật là mối đe dọa nghiêm trọng đối với thể chất hoặc tinh thần, hạnh phúc của người bệnh, hoặc sự sống còn của bệnh nhân. Bệnh nhân tự nhận thấy vấn đề sức khỏe của mình là tình trạng nghiêm trọng cấp tính như là: nhồi máu cơ tim cấp tính, liệt nửa người do đột quỵ,...
Các bệnh nghiêm trọng cấp tính thường gặp có thể kể đến như: Nhồi máu cơ tim; Đột quỵ; Ung thư: ung thư đại trực tràng, ung thư dạ dày, ung thư phổi, khối u não,...; Trầm cảm nặng; Viêm phổi cấp tính; Loét dạ dày; Bệnh viêm ruột cấp tính; ....
Đợt cấp tính của các tình trạng mạn tính đang mắc phải: bệnh nhân đang mắc phải những bệnh mạn tính, căn bệnh đó có thể có những đợt bùng lên cấp tính gây nguy hiểm cho bệnh nhân. Một số bệnh mạn tính có thể có đợt cấp tính như là:
- Đợt cấp tính của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).
- Đợt cấp tính của bệnh hen suyễn..
- Đợt cấp tính của bệnh viêm khớp dạng thấp.
- Đợt cấp tính của bệnh viêm gan virus.
3. Phân biệt bệnh cấp tính và bệnh mạn tính
Bệnh mãn tính là một căn bệnh tồn tại trong thời gian dài (trên 3 tháng). Nhìn chung, các bệnh mãn tính cũng khó có thể phòng ngừa được bằng vaccine hay thuốc, cũng không thể tự khỏi. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn có thể chung sống với bệnh và điều trị làm giảm thiểu các triệu chứng.
Nếu như bệnh cấp tính xảy ra đột ngột, diễn ra trong thời gian ngắn và mang lại hậu quả khá nặng nề thì bệnh mãn tính lại ngược lại. Bệnh mãn tính diễn ra lâu và ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh trong thời gian dài. Tình trạng được gọi là mãn tính khi bệnh kéo dài hơn 3 tháng. Bệnh như vậy nên sẽ ảnh hưởng lớn đến hệ thống miễn dịch kéo theo sự suy giảm sức khỏe, từ đó có thể dẫn tới tử vong.
Bệnh cấp tính và bệnh mạn tính sẽ có sự khác nhau như sau:
Thứ nhất, về thời gian phát triển bệnh
Trong khi bệnh cấp tính phát triển đột ngột và kéo dài trong thời gian ngắn thì bệnh mạn tính lại phát triển từ từ và có thể xấu đi trong một khoảng thời gian dài, vài tháng đến vài năm.
Thứ hai, về nguyên nhân gây bệnh
- Các tình trạng cấp tính thường do virus hoặc nhiễm trùng gây ra, nhưng cũng có thể do chấn thương do ngã hoặc tai nạn ô tô, hoặc do sử dụng sai thuốc hoặc dùng thuốc.
- Các tình trạng mạn tính thường do các hành vi không lành mạnh làm tăng nguy cơ mắc bệnh: dinh dưỡng kém, hoạt động thể chất không đầy đủ, lạm dụng rượu hoặc hút thuốc. Các yếu tố xã hội, tình cảm, môi trường và di truyền cũng đóng một vai trò nào đó. Khi con người già đi, họ có nhiều khả năng phát triển một hoặc nhiều tình trạng mạn tính.
Trong một số trường hợp khi bệnh cấp tính không được giải quyết triệt để nó có thể trở thành bệnh mạn tính.
Thứ ba, về triệu chứng bệnh
- Các bệnh cấp tính phát triển nhanh chóng và kèm theo các triệu chứng riêng biệt cần được chăm sóc khẩn cấp hoặc ngắn hạn, và sẽ tốt hơn khi chúng được điều trị. Ví dụ, gãy xương có thể do ngã phải được bác sĩ điều trị và sẽ được chữa lành kịp thời. Đôi khi, một bệnh cấp tính như cảm lạnh thông thường, sẽ tự khỏi. Hầu hết những người bị bệnh cấp tính sẽ sớm khỏi bệnh.
- Các tình trạng mạn tính phát triển chậm hơn, có thể tiến triển theo thời gian và có thể có dấu hiệu cảnh báo hoặc không có bất kỳ dấu hiệu nào. Các tình trạng mạn tính thường gặp là viêm khớp, bệnh Alzheimer, tiểu đường, bệnh tim, huyết áp cao và bệnh thận mạn tính.
Không giống như tình trạng cấp tính, tình trạng sức khỏe mạn tính thường không thể chữa khỏi mà chỉ được kiểm soát. Sống chung với bệnh mạn tính hoặc kiểm soát các triệu chứng của bệnh mạn tính thường có thể được thực hiện bằng cách tạo một kế hoạch chăm sóc sức khỏe như ăn uống lành mạnh, tập thể dục kết hợp với điều trị
4. Một số lưu ý về thói quen sống giúp phòng ngừa bệnh cấp tính
Bệnh cấp tính thường được ngăn ngừa bằng cách thực hiện các hành vi lối sống lành mạnh, chẳng hạn như:
- Duy trì hoạt động thể chất;
- Duy trì cân nặng và tình trạng dinh dưỡng hợp lý;
- Hạn chế ra nắng;
- Hạn chế ma túy, hút thuốc và sử dụng rượu quá mức.
Đối với dịch bệnh Covid-19, ngoài việc tiêm vắc-xin nhắc lại theo khuyến cáo của cơ quan y tế, cần tăng cường vệ sinh cá nhân như thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trong ít nhất 20 giây hoặc dùng các sản phẩm vệ sinh tay có chứa cồn (ít nhất 60% cồn). Bên cạnh đó cần đeo khẩu trang thường xuyên nơi công cộng, ăn uống hợp vệ sinh, đủ chất, giữ ấm mũi họng, nâng cao thể trạng.
Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê