1. Bị lừa qua mạng có cách đòi được không?

Kính thưa Luật sư! Luật sư cho con hỏi trường hợp của con có thể trình báo với công an địa phương hay không ạ! Hôm 5/1/2016 con có đặt mua của một người bán hàng qua mạng Facebook với hoá đơn là 400.000 đồng. Ban đầu anh ta nói con phải chuyển khoản thì mới gửi hàng.
Con hỏi anh ta ở đâu thì anh ta nói ở Nha Trang con mới nói là em đang có xe sắp đi ngang Nha Trang anh ra gửi rồi thu tiền giùm e với. Anh ta không chịu nói gửi xe sợ lạc mất với hư đồ và kêu con chuyển khoản, rồi con mới nói vậy anh gửi bưu điện nhờ bưu điện thu hộ giùm tại em học nên không có thời gian đi chuyển khoản. Thì anh ta trả lời không ship COD. Nói con chuyển rồi gửi hàng không thì thôi. Hôm sau con nhờ người đi chuyển cho anh ta, anh ta nói gửi hàng cho con rồi nhưng shipper bữa đó nghỉ buổi chiều nên nói con đợi sáng hôm sau người ta đi làm ảnh chụp gửi con. Mà đến hôm nay con không thấy hàng về mà con nhắn tin thì không trả lời, chặn tài khoản con luôn. Lúc đó Con mới biết mình bị lừa. Còn 1 người cũng bị lừa như con đang không biết phải làm sao. Con là sinh viên mà bị vậy con ức lắm. Giấy tờ hình ảnh chuyển khoản con còn giữ Con mong luật sư giải đáp giùm con.
Con xin trân trọng cảm ơn!.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Theo quy định của pháp luật.

Như thông tin bạn cung cấp là bị lừa với số tiền 400.000đ nên chưa người đó có thể chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cụ thể.

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."

Nếu bạn có tài liệu, chứng cứ rằng việc chiếm đoạt 400.000đ (dưới 2 triệu đồng) của bạn thuộc các trường hợp được nêu trong Điều 174 thì bạn làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tuy nhiên, nếu bạn không thể yêu cầu khởi tố hình sự theo quy định trên thì bạn vẫn có quyền được kiện đòi tài sản bị người khác chiếm không có căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015:

"Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai."

"Điều 164. Biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với quyền sở hữu

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."

"Điều 166. Quyền đòi lại tài sản

1. Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

2. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó."

2. Chia sẻ kinh nghiệm của chúng tôi cho các bạn Sinh viên.

- Trước khi mua bán hàng trên các trang mạng hoặc đối với trường hợp này của bạn mà thấy người đó hay hoặc thường xuyên có hành vi lừa đảo bán hàng, giả danh trên các trang mạng xã hội nhưng sau khi lừa được đã khóa tài sản của người đó. Bạn thử dùng 1 số điện thoại khác hoặc 1 nick name của bạn bè để hỏi mua hàng, nhưng lưu ý bạn tỏ ra có ý định chắc chắn mua nhưng phải hỏi thông tin của người đó (Quan trọng nhất là: Họ và tên/ Địa chỉ) và giao dịch với mức là từ 2 triệu đồng trở lên, đồng thời bạn phải giữ lại các hóa đơn, đơn từ để chứng minh sau này.

- Khi bạn đã có những thông tin cơ bản đó thì mới có cơ sở để yêu cầu khởi tố theo quy định tại Khoản 1 - điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, hoặc bạn không cần khởi tố để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng sẽ có cách để người đó tự trả lại tiền.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục tố cáo và khởi kiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

2. Tư vấn về việc lừa xin việc làm?

Kính chào luật Minh Khuê! Em muốn nhờ luật sư tư vấn 1 vấn đề, để luật sư có thể hình dung rõ ràng sự việc em xin trình bày chi tiết như sau: Em đã tốt nghiệp cao đẳng được hơn 1 năm, tuy nhiên em vẫn chưa xin được việc làm. Chán nản vì phải chờ đợi đã lâu nên ngày 5/9/2014, khi cô Cao Thị H sang nhà và ngỏ lời muốn xin việc hộ em và bản thân sẽ không nhận bất cứ khoản tiền nào, gia đình em đã đồng ý.
Ngày 8/9, em đã đưa hồ sơ cho cô H, em có hỏi về vấn đề tiền nong nhưng cô bảo để khi nào em đi làm thì mới tính. Tuy nhiên đến ngày 10/9, cô H gọi điện và báo bên đường dây của cô đã lo xong việc cho e với mức phí là 45 triệu đồng và muốn gia đình em đưa trước 20 triệu, 25 triệu còn lại sẽ được giao sau khi e thấy tên trong danh sách trúng tuyển của công ty. Vì tin tưởng cô H gia đình em đã quyết định đưa tiền cho cô H vào buổi chiều ngày 10/9, có viết giấy cam kết xin cho em vào làm nhân viên giao nhận hàng, mức lương 5,5 triệu đồng, ngày đi làm là 1/10/2014. Nhưng đến ngày 12/9, thông qua chị họ em, chị có quen biết với chị L, là người cuối cùng cầm hồ sơ của em và làm việc với bên nhân sự của công ty, em được biết thực chất công việc mà cô H hứa xin cho em chỉ mất 30 triệu đồng. Trưa hôm đó mẹ con em đã vào nhà chị L và làm việc với chị. Chị L đã nói rằng thực chất công việc của em là công nhân QC, lương tháng 4 triệu đồng + 500.000 đồng tiền trách nhiệm và ngày đi làm là 15/10 chứ không phải như cô H đã hứa trước đó, công ty cũng đòi hỏi phải tăng ca rất nhiều và chị L cũng chỉ mới nhận được 15 triệu từ phía đường dây của cô H chứ không phải toàn bộ 20 triệu. Khi đó gia đình em nghĩ muốn tiết kiệm 15 triệu nên đã đồng ý với cách làm của chị L là về báo với cô H gia đình em không theo nữa, còn số tiền kia nếu cô lấy lại được cho nhà em thì tốt, không thì thôi. Còn về phần công việc của em thì chị L sẽ vẫn lo cho em và em sẽ làm việc với chị ấy chứ không thông qua người khác nữa. Gia đình em cũng hứa là sẽ đưa nốt 15 triệu còn lại cho chị sau khi thấy danh sách trúng tuyển. Ngày 15/9, em đã lên cổng công ty và xác nhận thấy có tên em trong danh sách trúng tuyển. Trưa hôm đó, mẹ em đã cầm 15 triệu vào nhờ chị họ của em ( người đã giới thiệu gia đình em với chị L) mang tiền xuống đưa cho chị L. Nhưng chị họ em nói rằng có một số tin đồn không tốt về chị L, nên để chắc chắn gia đình em sẽ đến yêu cầu chị L rằng em sẽ chỉ đưa nốt 15 triệu còn lại sau khi em đi làm ngày 15/10, nhưng chị L không chịu và giữa chị L với chị họ em đã xảy ra một số tranh chấp. Trong lúc tức giận chị L đã tuyên bố không xin việc giúp em nữa và sẽ đưa lại 15 triệu cho bên cô H để cô trả lại cho nhà em. Tuy nhiên đến tối cùng ngày đó, chị L đã gọi điện lại và hứa sẽ giúp gia đình em nhưng với điều kiện chỉ có mẹ con em xuống làm việc với chị mà không được thông qua chị họ em nữa. Vì quá áp lực cộng với sự mất lòng tin ở chị L nên em đã báo là sẽ không tiếp tục việc này nữa. Sau một thời gian nói chuyện với em không được chị L cũng đã từ bỏ và nói rằng đã nói chuyện lại với bên nhân sự của công ty. Họ chấp nhận trả lại cho một phần số tiền em đã đưa nếu ngày 15/10 bên đó xác nhận chắc chắn em không đi làm. Mọi việc tưởng chừng kết thúc ở đó nhưng đến ngày 1/10, cô H vẫn gặp bảo em là 15/10 đi làm đi, bên cô cũng xem xét hoàn cảnh gia đình em và quyết định giảm xuống 40 triệu. em đã bảo là em báo thôi rồi sao giờ lại bảo em đi làm và đòi tiền gia đình em thì cô H nói giờ tên đã có trong danh sách rồi, em không thể bỏ được nữa.
Ngày 3/10 em gọi cô H sang nhà và nói chuyện lại với cô. Em đã nói rằng thực chất gia đình em đã biết người xin việc cho em là ai, họ cũng nói thực chất công việc không như những gì cô đã hứa, gia đình em cũng đã làm việc với chị L rồi, 2 bên đã thống nhất là em không đi làm nữa vậy tại sao cô vẫn sang đòi tiền nhà em. Gia đình em cũng muốn giải quyết mọi chuyện trong êm đẹp nhưng vì cô H vẫn sang đòi tiền nên giờ gia đình em muốn đòi lại toàn bộ 20 triệu từ phía cô H vì cô đã vi phạm hợp đồng. Nhưng cô H cứ một mực nói rằng cô không biết chị L nào hết, cô chỉ làm việc với người quen bên HP thôi, giờ người ta kêu có tên trong danh sách, đến nhắc nhà em nộp tiền thì nhà em phải nộp. Cô cũng bảo thật sự là công việc cô xin cho em tiền lương chỉ có 4,5 triệu, ngày đi làm là 15/10 nhưng chắc chắn e vẫn làm ở vị trí cán bộ nhận, kiểm hàng để xuất khẩu đi nước ngoài chứ không phải công nhân, công việc rất nhàn nhã chứ không vất vả như những gì em nghe đươc, Cô bảo em hãy tin tưởng cô chứ đừng nghe người khác nói lung tung, còn về phía cô cô sẽ nói chuyện với bà bên HP để giảm bớt tiền cho nhà em xuống 35 triệu chứ giờ muốn đòi tiền lại thì cô cũng không đòi được, đừng lấy giấy cam kết ra mà làm việc với cô. Mặc dù bất mãn với cách làm của cô H nhưng em cũng phải để cô về khi giải quyết đến đó và hi vọng sẽ lấy được tiền ở chỗ chị L.
Nhưng chiều tối ngày 10/10, phòng nhân sự công ty A gọi điện bảo em là sáng hôm sau đi làm vì công ty đang cần người gấp. Tuy nhiên nếu đến đó nếu em thấy công việc không phù hợp có thể rút hồ sơ về. Một phần vì muốn đến xem thử công việc như thế nào để đến lúc có cái nói lại với cô H, một phần vì không tin tưởng chị L sẽ trả lại tiền cho mình ( vì chị đấy chỉ hứa qua điện thoại với em chứ không có giấy tờ cam kết nào cả) nên sáng ngày 11/10 em đã đến công ty điểm danh. Sau một ngày làm việc em thấy mình thật sự không thể làm tiếp công việc này vì vị trí của em chỉ là công nhân, khối lượng công việc quá lớn, công ty yêu cầu tăng ca quá nhiều và lương lúc đầu của em chỉ có 2tr7, không có bất kì trợ cấp nào ngoài bữa trưa nên em đã quyết định không đi làm nữa. Ngày 13/10, chị L biết tin em đã đi làm ngày 11/10 nên nói sẽ không trả lại tiền cho gia đình em nữa, dù em nói chỉ đến xem công việc như thế nào rồi rút hồ sơ về như bên nhân sự đã nói chứ không có ý định đi làm.
Xin hỏi luật sư giờ em phải làm như thế nào, em biết việc mình đi làm ngày 11/10 là sai nhưng liệu có cách nào để em có thể lấy lại được tiền từ cô H không ạ?
Rất mong nhận được câu trả lời sớm của luật sư. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp cô H trên thực tế không có khả năng xin được việc cho bạn mà chỉ đưa ra những thông tin gian dối, giả tạo như hứa hẹn, cam kết, khẳng định… nhằm mục đích để bạn đưa tiền cho rồi chiếm đoạt tiền của bạn thì hành vi đó đã có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, trường hợp này bạn nên trình báo và tố cáo người đó đến cơ quan công an nơi người đó cư trú để tiến hành điều tra.

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

- Trường hợp hai bên có cam kết, thỏa thuận về việc đưa tiền để nhờ xin việc, và cụ thể tính chất công việc muốn xin, nhưng như bạn nói, công việc không đúng theo lời cô H nói. Trước tiên bạn phải tìm gặp người này để hai bên xác lập giấy tờ về số tiền họ đã nhận sau đó là cam kết hoàn trả nếu đến hết thời gian thỏa thuận mà họ không trả tiền cho bạn thì bạn hoàn toàn có quền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.

Theo Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 bạn có thể gửi đơn khởi kiện đòi lại tiền đến Tòa án nhân dân huyện quận nơi bị đơn cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết. Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch về tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc trao đổi tiền, nhận tiền giữa hai bên.

Trường hợp của bạn, bạn không thiết lập văn bản giao nhận tiền và cam kết hoàn trả, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ nên bạn có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ khác như bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền, hay nội dung email, người làm chứng xác nhận có việc nhận tiền của bị đơn và công việc không đúng như thỏa thận giữa hai bên.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa đảo thì khởi kiện như thế nào và cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết ?

3. Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Thưa Luật sư: Em có đặt mua một chiếc điện thoại Iphone X qua mạng, để đặt được em đã chuyển khoản cho người đó số tiền là 10 triệu đồng và sau 3 ngày em sẽ nhận được hàng. Nhưng hiện đã gần 1 tuần mà em vẫn chưa nhận được điện thoại. Số điện thoại em liên lạc và facebook của người đó đã bị khóa. Em cho rằng em đã bị lừa đảo nhưng hiện nay em chưa biết phải làm thế nào ?
Vậy xin hỏi Luật sư làm thế nào tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng internet? Tố cáo lên cơ quan công an nào ? Cần sử dụng mẫu đơn tố cáo như thế nào ?
Rất mong Luật sư hướng dẫn, xin cảm ơn Luật sư.
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Theo Điều 174Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Trong trường hợp của bạn, người đã nhận số tiền 10 triệu đồng để đặt mua điện thoại iphone X nhưng hiệ nay bạn không nhận được điện thoại cũng không liên lạc được với người đấy thì người đó (sau đây gọi là A) có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 174 BLHS 2015.

Để làm rõ vụ việc này và lấy lại tài sản của bạn, bạn có thể viết đơn tố cáo hành vi của A lên cơ quan công an có thẩm quyền, cụ thể như sau:

- Bước 1: Thu thập các bằng chứng liên quan đến vụ việc này và thông tin của A

- Bước 2: Viết đơn tố cáo

- Bước 3: Gửi đơn và bằng chứng lên cơ quan Công an tỉnh nơi người đó cư trú (nếu trường hợp không biết địa chỉ của A thì gửi đơn lên Công an tỉnh nơi bạn đang cư trú).

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị người khác hack nick facebook và mạo danh để đi lừa tiền thì chủ sở hữu facebook có bị tội gì không ?

4. Bị lừa mất tiền qua game zing?

Thưa luật sư, Cháu bị lừa mất tiền qua game zing. số tiền là 1.500.000d, sdt ấy bây giờ vẫn còn liên lạc được, nhưng có điều cháu ở Hải Phòng còn tên lừa tiền của cháu đang ở thành phố Đà Nẵng. cháu có thể làm đơn kiện tên lừa đảo ấy về hành vi lừa đảo, giả mạo, chiếm đoạt tài sản công dân không ạ. Cháu đã 20 tuổi rồi. Và nếu có thể thì xin hãy hướng dẫn cháu làm đơn và gửi đơn yêu cầu công an ở thành phố đà nẵng điều tra vụ việc ấy không ạ?
Người gửi: nguyenthikieuanh

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 174Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Rất có thể nhiều người khác cũng là người bị hại của đối tượng lừa đảo trên. Bạn nên trình báo với Cơ quan công an có thẩm quyền đề kịp thời điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về hành vi lừa đảo qua mạng internet ? Tố cáo lừa đảo ở đâu ?

5. Tư vấn về việc bị lừa đặt mua điện thoại qua mạng ?

Thưa luật sư, Em chào luật sư, em có một chuyện rắc rối mong được luật sư tư vấn giúp em. Chồng em hiện đang là du học sinh bên Nhật. Anh ấy có đặt mua điện thoại IP6 qua 1 nick facebook, anh ấy có chuyển tiền cho họ rồi nhưng họ không gửi hàng và không liên lạc gì với chồng mình nữa, chồng mình nhắn tin họ đọc nhưng không trả lời.
Bây giờ có cách nào để chồng em lấy lại được số tiền đó không ạ? Du học sinh rất vất vả với kiếm được tiền, số tiền hơn 10 triệu cũng không nhỏ với vợ chồng em. Em bảo báo cảnh sát Nhật để họ điều tra, vì chuyển tiền có phiếu của Bưu điện. Nhưng chồng em đi làm thêm 2 việc (1 ngày 2 việc là 8 tiếng) anh ấy lại sợ cảnh sát điều tra ra làm quá giờ cho phép sẽ bị đuổi về nước, nên không giám báo cảnh sát ?
Mong luật sư tư vấn giúp em, câu trả lời xin luật sư mail lại vào email này ạ. Em xin cảm ơn! Trân trọng!
Người gửi: M.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất chồng bạn đi làm thêm 2 việc (1 ngày 2 việc là 8 tiếng) anh ấy lại sợ cảnh sát điều tra ra làm quá giờ cho phép sẽ bị đuổi về nước, nên không dám báo cảnh sát. Theo ý kiến của tôi thì không có quy định nào quy định cụ thể, rõ ràng về việc làm quá giờ bị đuổi về nước nên chồng bạn khồng cần phải lo lắng về điều này.

- Thứ hai, nếu như chồng bạn không trình báo cơ quan có thẩm quyền bên Nhật thì có thể trình báo cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam để giải quyết.

- Căn cứ theo điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Trong trường hợp của bạn, đối tượng đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách là yêu cầu bạn mua điện thoại qua 1 nick facebook chuyển tiền qua bưu điện. Tuy nhiên, chồng bạn hiện đang là du học sinh bên Nhật. Anh ấy có đặt mua điện thoại IP6 qua 1 nick facebook, anh ấy có chuyển tiền cho họ rồi nhưng họ không gửi hàng và không liên lạc gì với chồng bạn nữa, chồng bạn nhắn tin họ đọc nhưng không trả lời. Hành vi này nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn là 10 triệu đồng, có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bạn có thể trình báo với cơ quan công an về sự việc trên để được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tố cáo tội phạm lừa đảo qua mạng ở đâu ? Hướng dẫn viết đơn tố cáo lừa đảo

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Hình phạt tiền được áp dụng đối với các trường hợp nào?

Trả lời:

Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:

- Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;

- Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật Hình sự 2015

Câu hỏi: Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào yếu tố nào?

Trả lời:

Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng.

Câu hỏi: Cải tạo không giam giữ từ 06 tháng đến 03 năm được áp dụng với đối tượng nào?

Trả lời:

Cải tạo không giam giữ được áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật Hình sự 2015 quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội.

Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.