1. Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ?

Kính thưa Luật sư!. Luật sư cho con hỏi trường hợp của con có thể trình báo với công an địa phương hay không ạ! Hôm 5/1/2016 con có đặt mua của một người bán hàng qua mạng Facebook với hoá đơn là 400.000 đồng. Ban đầu anh ta nói con phải chuyển khoản thì mới gửi hàng.
Con hỏi anh ta ở đâu thì anh ta nói ở Nha Trang con mới nói là em đang có xe sắp đi ngang Nha Trang anh ra gửi rồi thu tiền giùm e với. Anh ta không chịu nói gửi xe sợ lạc mất với hư đồ và kêu con chuyển khoản, rồi con mới nói vậy anh gửi bưu điện nhờ bưu điện thu hộ giùm tại em học nên không có thời gian đi chuyển khoản. Thì anh ta trả lời không ship COD. Nói con chuyển rồi gửi hàng không thì thôi. Hôm sau con nhờ người đi chuyển cho anh ta, anh ta nói gửi hàng cho con rồi nhưng shipper bữa đó nghỉ buổi chiều nên nói con đợi sáng hôm sau người ta đi làm ảnh chụp gửi con. Mà đến hôm nay con không thấy hàng về mà con nhắn tin thì không trả lời, chặn tài khoản con luôn. Lúc đó Con mới biết mình bị lừa. Còn 1 người cũng bị lừa như con đang không biết phải làm sao. Con là sinh viên mà bị vậy con ức lắm. Giấy tờ hình ảnh chuyển khoản con còn giữ Con mong luật sư giải đáp giùm con.
Con xin trân trọng cảm ơn!.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Theo quy định của pháp luật.

Như thông tin bạn cung cấp là bị lừa với số tiền 400.000đ nên chưa người đó có thể chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về "Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cụ thể.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Nếu bạn có tài liệu, chứng cứ rằng việc chiếm đoạt 400.000đ (dưới 2 triệu đồng) của bạn gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có chứng minh được người đó đã bị xử phạt hành vi về hành vi này còn chưa được xóa án tích thì bạn có thể khởi kiện.

Theo đó, nội dung khởi kiện bạn sẽ phải được thực hiện theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 như sau:

Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.”

Tuy nhiên, nếu bạn không thể khởi kiện theo quy định trên thì bạn vẫn có quyền được kiện đòi tài sản bị người khác chiếm không có căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 163. Tài sản

Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

Điều 255. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.

Điều 256. Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.

Ngoài ra, bạn còn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu thấy hành vi của người đó là:

- Có hành vi trái pháp luật

- Có mối quan hệ hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra trên thực tế

- Có thiệt hại xảy ra trên thực tế

- Hành vi trái pháp luật đó do lỗi của người vi phạm.

Điều 260. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại."

2. Chia sẻ kinh nghiệm của chúng tôi cho các bạn Sinh viên.

- Trước khi mua bán hàng trên các trang mạng hoặc đối với trường hợp này của bạn mà thấy người đó hay hoặc thường xuyên có hành vi lừa đảo bán hàng, giả danh trên các trang mạng xã hội nhưng sau khi lừa được đã khóa tài sản của người đó. Bạn thử dùng 1 số điện thoại khác hoặc 1 nick name của bạn bè để hỏi mua hàng, nhưng lưu ý bạn tỏ ra có ý định chắc chắn mua nhưng phải hỏi thông tin của người đó (Quan trọng nhất là: Họ và tên/ Địa chỉ) và giao dịch với mức là từ 2 triệu đồng trở lên, đồng thời bạn phải giữ lại các hóa đơn, đơn từ để chứng minh sau này.

- Khi bạn đã có những thông tin cơ bản đó thì mới có cơ sở để khởi kiện theo quy định tại Khoản 1 - điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2004), hoặc bạn không cần khởi tố để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng sẽ có cách để người đó tự trả lại tiền.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

2. Tư vấn về việc lừa xin việc làm ?

Kính chào luật Minh Khuê! Em muốn nhờ luật sư tư vấn 1 vấn đề, để luật sư có thể hình dung rõ ràng sự việc em xin trình bày chi tiết như sau: Em đã tốt nghiệp cao đẳng được hơn 1 năm, tuy nhiên em vẫn chưa xin được việc làm. Chán nản vì phải chờ đợi đã lâu nên ngày 5/9/2014, khi cô Cao Thị H sang nhà và ngỏ lời muốn xin việc hộ em và bản thân sẽ không nhận bất cứ khoản tiền nào, gia đình em đã đồng ý.
Ngày 8/9, em đã đưa hồ sơ cho cô H, em có hỏi về vấn đề tiền nong nhưng cô bảo để khi nào em đi làm thì mới tính. Tuy nhiên đến ngày 10/9, cô H gọi điện và báo bên đường dây của cô đã lo xong việc cho e với mức phí là 45 triệu đồng và muốn gia đình em đưa trước 20 triệu, 25 triệu còn lại sẽ được giao sau khi e thấy tên trong danh sách trúng tuyển của công ty. Vì tin tưởng cô H gia đình em đã quyết định đưa tiền cho cô H vào buổi chiều ngày 10/9, có viết giấy cam kết xin cho em vào làm nhân viên giao nhận hàng, mức lương 5,5 triệu đồng, ngày đi làm là 1/10/2014. Nhưng đến ngày 12/9, thông qua chị họ em, chị có quen biết với chị L, là người cuối cùng cầm hồ sơ của em và làm việc với bên nhân sự của công ty, em được biết thực chất công việc mà cô H hứa xin cho em chỉ mất 30 triệu đồng. Trưa hôm đó mẹ con em đã vào nhà chị L và làm việc với chị. Chị L đã nói rằng thực chất công việc của em là công nhân QC, lương tháng 4 triệu đồng + 500.000 đồng tiền trách nhiệm và ngày đi làm là 15/10 chứ không phải như cô H đã hứa trước đó, công ty cũng đòi hỏi phải tăng ca rất nhiều và chị L cũng chỉ mới nhận được 15 triệu từ phía đường dây của cô H chứ không phải toàn bộ 20 triệu. Khi đó gia đình em nghĩ muốn tiết kiệm 15 triệu nên đã đồng ý với cách làm của chị L là về báo với cô H gia đình em không theo nữa, còn số tiền kia nếu cô lấy lại được cho nhà em thì tốt, không thì thôi. Còn về phần công việc của em thì chị L sẽ vẫn lo cho em và em sẽ làm việc với chị ấy chứ không thông qua người khác nữa. Gia đình em cũng hứa là sẽ đưa lốt 15 triệu còn lại cho chị sau khi thấy danh sách trúng tuyển. Ngày 19/9, em đã lên cổng công ty và xác nhận thấy có tên em trong danh sách trúng tuyển. Trưa hôm đó, mẹ em đã cầm 15 triệu vào nhờ chị họ của em ( người đã giới thiệu gia đình em với chị L) mang tiền xuống đưa cho chị L. Nhưng chị họ em nói rằng có một số tin đồn không tốt về chị L, nên để chắc chắn gia đình em sẽ đến yêu cầu chị L rằng em sẽ chỉ đưa lốt 15 triệu còn lại sau khi em đi làm ngày 15/10, nhưng chị L không chịu và giữa chị L với chị họ em đã xảy ra một số tranh chấp. Trong lúc tức giận chị L đã tuyên bố không xin việc giúp em nữa và sẽ đưa lại 15 triệu cho bên cô H để cô trả lại cho nhà em. Tuy nhiên đến tối cùng ngày đó, chị L đã gọi điện lại và hứa sẽ giúp gia đình em nhưng với điều kiện chỉ có mẹ con em xuống làm việc với chị mà không được thông qua chị họ em nữa. Vì quá áp lực cộng với sự mất lòng tin ở chị L nên em đã báo là sẽ không tiếp tục việc này nữa. Sau một thời gian nói chuyện với em không được chị L cũng đã từ bỏ và nói rằng đã nói chuyện lại với bên nhân sự của công ty. Họ chấp nhận trả lại cho một phần số tiền em đã đưa nếu ngày 15/10 bên đó xác nhận chắc chắn em không đi làm. Mọi việc tưởng chừng kết thúc ở đó nhưng đến ngày 1/10, cô H vẫn gặp bảo em là 15/10 đi làm đi, bên cô cũng xem xét hoàn cảnh gia đình em và quyết định giảm xuống 40 triệu. em đã bảo là em báo thôi rồi sao giờ lại bảo em đi làm và đòi tiền gia đình em thì cô H nói giờ tên đã có trong danh sách rồi, em không thể bỏ được nữa.
Ngày 3/10 em gọi cô H sang nhà và nói chuyện lại với cô. Em đã nói rằng thực chất gia đình em đã biết người xin việc cho em là ai, họ cũng nói thực chất công việc không như những gì cô đã hứa, gia đình em cũng đã làm việc với chị L rồi, 2 bên đã thống nhất là em không đi làm nữa vậy tại sao cô vẫn sang đòi tiền nhà em. Gia đình em cũng muốn giải quyết mọi chuyện trong êm đẹp nhưng vì cô H vẫn sang đòi tiền nên giờ gia đình em muốn đòi lại toàn bộ 20 triệu từ phía cô H vì cô đã vi phạm hợp đồng. Nhưng cô H cứ một mực nói rằng cô không biết chị L nào hết, cô chỉ làm việc với người quen bên HP thôi, giờ người ta kêu có tên trong danh sách, đến nhắc nhà em nộp tiền thì nhà em phải nộp. Cô cũng bảo thật sự là công việc cô xin cho em tiền lương chỉ có 4,5 triệu, ngày đi làm là 15/10 nhưng chắc chắn e vẫn làm ở vị trí cán bộ nhận, kiểm hàng để xuất khẩu đi nước ngoài chứ không phải công nhân, công việc rất nhàn nhã chứ không vất vả như những gì em nghe đươc, Cô bảo em hãy tin tưởng cô chứ đừng nghe người khác nói lung tung, còn về phía cô cô sẽ nói chuyện với bà bên HP để giảm bớt tiền cho nhà em xuống 35 triệu chứ giờ muốn đòi tiền lại thì cô cũng không đòi được, đừng lấy giấy cam kết ra mà làm việc với cô. Mặc dù bất mãn với cách làm của cô H nhưng em cũng phải để cô về khi giải quyết đến đó và hi vọng sẽ lấy được tiền ở chỗ chị L.
Nhưng chiều tối ngày 10/10, phòng nhân sự công ty A gọi điện bảo em là sáng hôm sau đi làm vì công ty đang cần người gấp. Tuy nhiên nếu đến đó nếu em thấy công việc không phù hợp có thể rút hồ sơ về. Một phần vì muốn đến xem thử công việc như thế nào để đến lúc có cái nói lại với cô H, một phần vì không tin tưởng chị L sẽ trả lại tiền cho mình ( vì chị đấy chỉ hứa qua điện thoại với em chứ không có giấy tờ cam kết nào cả) nên sáng ngày 11/10 em đã đến công ty điểm danh. Sau một ngày làm việc em thấy mình thật sự không thể làm tiếp công việc này vì vị trí của em chỉ là công nhân, khối lượng công việc quá lớn, công ty yêu cầu tăng ca quá nhiều và lương lúc đầu của em chỉ có 2tr7, không có bất kì trợ cấp nào ngoài bữa trưa nên em đã quyết định không đi làm nữa. Ngày 13/10, chị L biết tin em đã đi làm ngày 11/10 nên nói sẽ không trả lại tiền cho gia đình em nữa, dù em nói chỉ đến xem công việc như thế nào rồi rút hồ sơ về như bên nhân sự đã nói chứ không có ý định đi làm.
Xin hỏi luật sư giờ em phải làm như thế nào, em biết việc mình đi làm ngày 11/10 là sai nhưng liệu có cách nào để em có thể lấy lại được tiền từ cô H không ạ?
Rất mong nhận được câu trả lời sớm của luật sư. Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp cô H trên thực tế không có khả năng xin được việc cho bạn mà chỉ đưa ra những thông tin gian dối, giả tạo như hứa hẹ, cam kết, khẳng định… nhằm mục đích để bạn đưa tiền cho rồi chiếm đoạt tiền của bạn thì hành vi đó đã có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009, trường hợp này bạn nên trình báo và tố cáo người đó đến cơ quan công an nơi người đó cư trú để tiến hành điều tra.

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

- Trường hợp hai bên có cam kết, thỏa thuận về việc đưa tiền để nhờ xin việc, và cụ thể tính chất công việc muốn xin, nhưng như bạn nói, công việc không đúng theo lời cô H nói. Trước tiên bạn phải tìm gặp người này để hai bên xác lập giấy tờ về số tiền họ đã nhận sau đó là cam kết hoàn trả nếu đến hết thời gian thỏa thuận mà họ không trả tiền cho bạn thì bạn hoàn toàn có quền khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết.

Theo Điều 33, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung 2011 bạn có thể gửi đơn khởi kiện đòi lại tiền đến Tòa án nhân dân huyện quận nơi bị đơn cư trú, làm việc để yêu cầu giải quyết. Và để đảm bảo đơn kiện được Tòa án chấp thuận và thụ lý bạn phải cung cấp các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc xác định đã có quan hệ giao dịch về tiền trên thực tế, các tài liệu chứng minh có việc trao đổi tiền, nhận tiền giữa hai bên.

Trường hợp của bạn, bạn không thiết lập văn bản giao nhận tiền và cam kết hoàn trả, cũng không có giấy biên nhận hay giấy ghi nợ nên bạn có thể xuất trình cho Tòa án các chứng cứ khác như bản ghi âm cuộc giao dịch vay tiền, nội dung tin nhắn vay tiền, hay nội dung email, người làm chứng xác nhận có việc nhận tiền của bị đơn và công việc không đúng như thỏa thận giữa hai bên.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

3. Bị lừa mua vé máy bay có lấy lại được không ?

Kính chào luật sư! Tôi đang vướng phải một trường hợp mong luật sư tư vấn giúp. Hiện tại em đang ở nhật tôi mới bị lừa mua vé máy bay về Việt Nam, khi tôi huyển khoản cho họ họ nói ngày mai họ gửi vé nhưng rồi tôi không nhận được vé.
Tôi không đủ chứng cớ để báo cảnh sát, số điện thoại thì không liên lạc được, chỉ còn mỗi số tài khoản ngân hàng mà ở Nhật người ta không thể dễ dàng tiết lộ thông tin cá nhân. Tôi không muốn các bạn khác cũng bi lừa giống tôi, vậy giờ tôi phải làm gì ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện tại em bạn ở Nhật mới bị lừa mua vé máy bay, khi bạn chuyển khoản cho người bán họ nói ngày mai họ gửi vé nhưng rồi bạn không nhận được vé. Hơn nữa bạn lại không thể liên lạc được với hay báo cảnh sát và chỉ có số tài khoản ngân hàng của người bán vé. Việc bạn mua vé máy bay ở Nhật là bạn đã giao kết một hợp đồng dân sự với người bán vé máy bay đó và vé là loại giấy tờ chứng minh cho việc giao kết hợp đồng. Vì bạn đã không nhận được vé cho nên muốn lấy vé hoặc lấy lại tiền thì bạn phải chứng minh được bạn có giấy tờ liên quan đến việc chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho người bán vé hay không và việc chuyển tiền với mục đích gì. Khi mua vé bạn cũng nên biết rõ đó là hãng hàng không nào và ai là người bán vé cho bạn. Do bạn không cung cấp thông tin về cách thức và nơi mua vé nên:

Nếu bạn ở Việt Nam và mua vé qua mạng, qua điện thoại... thì việc mua vé đó là việc giao kết hợp đồng dân sự vắng mặt, và theo quy định tại điều 771 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 quy định về việc giao kết hợp đồng dân sự vắng mặt thì:

Trong trường hợp giao kết hợp đồng vắng mặt thì việc xác định nơi giao kết hợp đồng phải tuân theo pháp luật của nước nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi có trụ sở chính của pháp nhân là bên đề nghị giao kết hợp đồng.

Thời điểm giao kết hợp đồng vắng mặt được xác định theo pháp luật của nước của bên đề nghị giao kết hợp đồng nếu bên này nhận được trả lời chấp nhận của bên được đề nghị giao kết hợp đồng.

Do đó bạn có thể nộp đơn khởi kiện yêu cầu tòa án nhân dân nơi bạn cư trú để giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự, kèm theo đơn là giấy tờ chứng minh việc chuyển tiền với mục đích mua vé của bạn. Khi đó tòa án sẽ xem xét thẩm quyền và giải quyết vụ việc.

Trong trường hợp bạn mua vé ở Nhật và bạn cũng đang ở Nhật thì nơi giao kết hợp đồng sẽ là ở Nhật. Khi đó, việc tố cáo sẽ áp dụng theo pháp luật của nước nơi giao kết hợp đồng đó là nước Nhật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn về mức xử phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới nhất

4. Bị lừa mất tiền qua game zing?

Thưa luật sư, Cháu bị lừa mất tiền qua game zing. số tiền là 1.500.000d, sdt ấy bh vẫn còn liên lạc được. nhưng có điều cháu ở hải phòng còn tên lừa tiền của cháu đang ở thành phố đà nẵng. cháu có thể làm đơn kiện tên lừa đảo ấy về hành vi lừa đảo, giả mạo, chiếm đoạt tài sản công dân k ạ. cháu đã 20 tuổi rồi. và nếu có thể thì xin hãy hướng dẫn cháu làm đơn và gửi đơn yêu cầu công an ở thành phố đà nẵng điều tra vụ việc ấy k ạ?
Người gửi: nguyenthikieuanh

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (văn bản thay thế: Bộ luật Hình sự năm 2015 ). Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từhai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Rất có thể nhiều người khác cũng là người bị hại của đối tượng lừa đảo trên. Bạn nên trình báo với Cơ quan công an có thẩm quyền đề kịp thời điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Bạn giao tiền ở địa phương nào thì công an ở địa phương đó sẽ có thẩm quyền giải quyết. Theo quy định mới của Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 thì số tiền chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng sẽ không bị xử lý hình sự về tội lừa đảo.

Nếu kẻ lừa tiền của bạn đã từng bị xử lý hành chính về hành vi này thì nay mới có thể bị xử lý hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

>> Xem thêm:  Tại sao người yêu bạn lừa dối bạn, có phải là họ hết yêu ?

5. Tư vấn về việc bị lừa đặt mua điện thoại qua mạng ?

Thưa luật sư, Em chào luật sư, em có một chuyện rắc rối mong được luật sư tư vấn giúp em. Chồng em hiện đang là du học sinh bên Nhật. Anh ấy có đặt mua điện thoại IP6 qua 1 nick facebook, anh ấy có chuyển tiền cho họ rồi nhưng họ không gửi hàng và không liên lạc gì với chồng mình nữa, chồng mình nhắn tin họ đọc nhưng không trả lời.
Bây giờ có cách nào để chồng em lấy lại được số tiền đó không ạ? Du học sinh rất vất vả với kiếm được tiền, số tiền hơn 10 triệu cũng không nhỏ với vợ chồng em. Em bảo báo cảnh sát Nhật để họ điều tra, vì chuyển tiền có phiếu của Bưu điện. Nhưng chồng em đi làm thêm 2 việc (1 ngày 2 việc là 8 tiếng) anh ấy lại sợ cảnh sát điều tra ra làm quá giờ cho phép sẽ bị đuổi về nước, nên không giám báo cảnh sát ?
Mong luật sư tư vấn giúp em, câu trả lời xin luật sư mail lại vào email này ạ. Em xin cảm ơn! Trân trọng!
Người gửi: M.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất chồng bạn đi làm thêm 2 việc (1 ngày 2 việc là 8 tiếng) anh ấy lại sợ cảnh sát điều tra ra làm quá giờ cho phép sẽ bị đuổi về nước, nên không giám báo cảnh sát. Theo ý kiến của tôi thì không có quy định nào quy định cụ thể, rõ ràng về việc làm quá giờ bị đuổi về nước nên chồng bạn khồng cần phải lo lắng về điều này.

- Thứ hai, nếu như chồng bạn không trình báo cơ quan có thẩm quyền bên Nhật thì có thể trình báo cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam để giải quyết.

- Căn cứ theo điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999:

Điều 139 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trong trường hợp của bạn, đối tượng đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách là yêu cầu bạn mua điện thoại qua 1 nick facebook chuyển tiền qua bưu điện. Tuy nhiên, chồng bạn hiện đang là du học sinh bên Nhật. Anh ấy có đặt mua điện thoại IP6 qua 1 nick facebook, anh ấy có chuyển tiền cho họ rồi nhưng họ không gửi hàng và không liên lạc gì với chồng bạn nữa, chồng bạn nhắn tin họ đọc nhưng không trả lời. Hành vi này nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn là 10 triệu đồng, có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. Bạn có thể trình báo với cơ quan công an về sự việc trên để được cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa đảo qua mạng phải làm thế nào?