- 1. Quy định của pháp luật về hợp đồng hợp pháp
- 1.1 Quy định về hợp đồng
- 1. 2 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của bên vay
- 2. Trường hợp bị người khác lấy cắp thông tin đi vay tiền thì có phải trả tiền không ?
- 3. Giải quyết tình huống bị người khác đánh cắp thông tin đi vay tiền có phải thực hiện nghĩa vụ chi trả không ?
- 4. Quy định về xử phạt đối với hành vi lấy cắp thông tin cá nhân của người khác
1. Quy định của pháp luật về hợp đồng hợp pháp
1.1 Quy định về hợp đồng
Theo quy định hiện hành, Hợp đồng vay tài sản chỉ khi có đủ các yếu tố sau mới được công nhận là hợp đồng có hiệu lực theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015:
- Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận của các bên, trong đó, bên cho vay cho bên vay tài sản;
- Hợp đồng là loại hợp đồng có điều kiện, khi đến thời hạn trả được quy định trong nội dung hợp đồng, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay loại tài sản được vay theo đúng số lượng, chất lượng và phát sinh trả lãi nếu có thoả thuận hay theo quy định của pháp luật.
1. 2 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ của bên vay
Bên cạnh đó, căn cứ tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay:
- Trường hợp bên vay không thể tài sản bằng hiện vật thì có thể trả bằng tiền bằng trị giá của tài sản được cho vay tại địa điểm và thời điểm ký hợp đồng vay với điều kiện được bên cho vay đồng ý.
- Trường hợp đồng cho vay không có nội dung về khoản lãi, khi đến hạn bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo mức quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật với số tìền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Trừ trường hợp có thoả thuận hay quy định khác.
- Trường hợp hợp đồng vay có lãi mà đến thời hạn trả tài sản mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay có nghĩa vụ trả lãi:
- Lãi từ nợ gốc theo nội dung thoả thuận hợp đồng tương ứng với thời gina vay mà đến hạn chưa trả, nếu chậm trả sẽ bị tính lãi chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
- Lãi trên nợ gốc bị quá thời hạn trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ khi hợp đồng có thoả thuận khác.
Từ những quy định trên, giao dịch vay tiền chỉ được hình thành khi sóc sự thoả thuận giữa các bên là bên cho vay và bên cho vay về quá trình vay tiền, giao tiền cho vay, thời hạn cụ thể về việc trả lãi và lãi suất (nếu có). Dựa trên giao dịch đó, bên vay tài sản mới có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay.
2. Trường hợp bị người khác lấy cắp thông tin đi vay tiền thì có phải trả tiền không ?
Trên thực tế, đang có rất nhiều tình trạng bị người khác đánh cắp thông tin để đi vay tiền bất hợp pháp chỉ với số điện thoại, Căn cước công dân/chứng minh thư, giấy tờ tuỳ thân khác,.... Và người bị đánh cắp nhận được thông báo từ bên cho vay phải thực hiện nghĩa vụ chi trả khoản vay đó kèm theo các khoản khác như: tiền lãi từ khoản vay gốc, lãi phát sinh do chậm trả tiền vay gốc. Vậy khi rơi vào trường này phải làm thế nào ?
Để không phải thực hiện nghĩa vụ vay tiền một cách bất hợp lý như trên thì người bị lấy cắp thông phải chứng minh được bản thân mình không tự nguyện thực hiện việc giao kết hợp đồng vay tiền mình nhận được thông tin, không phải là người thực hiện việc vay tiền nói trên.
Thế nhưng việc chứng minh được tình huống huống này gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí người bị đánh cắp thông tin còn bị đe doạ, làm phiền để nhanh chóng chi trả khoản vay trên dưới nhiều hình thức. Vậy khi đó, người bị đánh cắp thông tin phải làm như thế nào để bảo vệ quyền lợi của bản thân mình.
3. Giải quyết tình huống bị người khác đánh cắp thông tin đi vay tiền có phải thực hiện nghĩa vụ chi trả không ?
Khi gặp phải tình huống này, người bị đánh cắp thông tin cần trình báo sự việc này trong thời gian sớm nhất có thể tới Cơ quan công an gần nhất căn cứ theo quy định tại Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 7 Thông tư 28/2020/TT-BCA để được cơ quan có thẩm quyền tiến hành quá trình điều tra, xác minh, thu thập thông tin sự việc và đưa ra phương án xử lý phù hợp với cá nhân đã thực hiện đánh cắp thông tin như sau:
- báo cho Công an xã, phường, thị trấn: để làm nhiệm vụ phân loại , xử lý tin báo về tội phạm;
- Công an điều tra cấp huyện: để thực hiện điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp huyện;
- Công an điều tra cấp tỉnh: có nhiệm vụ điều tra những tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp tỉnh, có yếu tố nước ngoài,...
Đặc biệt, trường hợp bị rơi, mất giấy tờ tuỳ thân cần nhanh chóng thông báo với cơ quan có thẩm quyền để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phòng tránh trường hợp xấu nhất có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, để tránh xảy ra tình huống không thực hiện vay tiền nhưng vẫn phải trả nợ, mỗi cá nhân còn cần cảnh giác với hết sức với các chiêu trò lừa đảo hiện nay. Tuyệt đối không đưa đầy đủ thông tin tuỳ tiện lên các trang mạng xã hội hay cung cấp thông tin cho người lạ khác.
4. Quy định về xử phạt đối với hành vi lấy cắp thông tin cá nhân của người khác
Theo đó, cá nhân lấy cắp thông tin của người khác sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt tương ứng theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc lấy cắp thông tin trái phép được quy định cụ thể dưới các hành vi sau:
- Sử dụng không đúng mục đích;
- Cung cấp, chia sẻ, phát tán hoặc kinh doanh trái pháp luật
- Hay các hành vi khác liên quan đến lấy cắp thông tin cá nhân.
Cá nhân nào lấy cắp thông tin người khác bất hợp pháp dưới các hình thức cụ thể trên sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành như sau:
Căn cứ vào Điều 84 Nghị định 15/2020/NĐ-CP về việc hành vi sử dụng trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác sẽ bị xử lý:
- Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:
- Sử dụng không đúng mục đích đối với thông tin cá nhân theo thoả thuận khi thực hiện thu thập hoặc khi chưa có sự đồng ý của chủ thể cung cấp thông tin;
- Cung cấp, chia sẻ hoặc phát tán thông tin cá nhân đã thu thập được, tiếp cận, kiểm soát cho bên thứ ba khi chưa có sự đồng ý dưới mọi hình thức của bên cá nhân cung cấp thông tin;
- Thu thập, sử dụng, phát tán dưới nhiều hình thức hay nhằm mục đích kinh doanh trái phép đối với thông tin cá nhân của người khác.
- Xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng trái pháp luật thông tin của người khác.
Ngoài việc bị xử phạt hành chính trên, cá nhân có hành vi bất hợp pháp còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị lấy cắp thông tin. Nếu việc lấy cắp thông tin không được phép, đồng thời gây ra thiệt hại cho người bị lấy cắp thì cá nhân lấy cắp thông tin còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều 584, 585 Bộ luật Dân sự:
- Người có hành vi xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại cho người đó thì phải bồi thường, trừ trường hợp có quy định khác.
- Thiệt hại trên thực tế là bao nhiêu thì phải bồi thường kịp thời và toàn bộ.
Vậy nên, hành vi lấy cắp thông tin của người khác để vay tiền hay với bất kỳ mục đích nào khác thì dựa trên mức độ thiệt hại trên thực tế mà người lấy cắp thông tin phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường của mình. Mức bồi thường, phương thức bồi thường hay thời điểm bồi thường,.... được các bên bàn bạc, thoả thuận. Nếu không thể tự thoả thuận có thể yêu cầu Toà án giải quyết.
Trên đây là bài viết tham khảo của công ty Luật Minh Khuê về " Trường hợp bị lấy cắp thông tin đi vay tiền có phải trả hay không?". Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ các vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 19006162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn lđể được giải đáp.