1.Bảo mật thông tin hợp đồng là gì ?

Đối với một doanh nghiệp đang hoạt động hay một doanh nghiệp mới, muốn tồn tại, phát triển và đứn vững trong môi trường kinh doanh cần phải có đủ năng lực tự tạo ra hoặc tiếp nhận được các thông tin hữu ích cần thiết để tạo ra và cung cấp các hàng hóa dịch vụ mới hoặc cải tiến ra thị trường, Những thông tin hữu ích như vậy chính là bí mật kinh doanh 

Khỏa 23 điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2009 quy định bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính , trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh.Bí mật kinh doanh thường liên quan đế các loại thông tin khác nhau

2.Cung cấp thông tin hợp đồng bảo đảm cho những người nào ?

Các biện pháp và tài sản bảo đảm của khách hàng tại các tổ chức tín dụng thuộc về thông tin tín dụng, chỉ được phép cung cấp cho 4 đối tượng sau:

Đối với các tổ chức cấp tín dụng có cung cấp thông tin cho Công ty thông tin tín dụng để xem xét cấp tín dụng cho khách hàng vay, kiểm soát các khoản tín dụng, thu hồi nợ và mục đích khác được pháp luật cho phép;

Đới với khách hàng vay để kiểm tra thông tin về bản thân tại kho dữ liệu của Công ty thông tin tín dụng hoặc làm tài liệu bổ sung cho việc xin cấp tín dụng;

Đối với công ty thông tin tín dụng khác để phục vụ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;

Đối với cơ quan nhà nưốc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Đối với các tổ chức, cá nhân không được sửa đổi hoặc sao chép sản phẩm thông tin tín dụng để cung cấp cho bên thứ ba, trừ trường hợp thuộc đối tượng được phép cung cấp thông tin nêu trên.

Như vậy, các đối tượng khác không được cung cấp thông tin về giao dịch và tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, cho dù đây là dịch vụ có thu phí. Còn thông tin đăng ký biện pháp bảo đảm tại các cơ quan đăng ký thì được phép công khai theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm và pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm không có quy định cụ thể về việc cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm công bô" thông tin về biện pháp bảo đảm.

Theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì cơ quan nhà nước có quyền chủ động công khai thông tin do mình tạo ra hoặc nắm giữ trên cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng

3.Quy định chung về bảo mật thông tin hợp đồng bảo đảm 

Thông tin về giao dịch bảo đảm, đặc biệt thông tin về đăng ký giao dịch bảo đảm, phải được công khai rộng rãi thì mới phát huy được ý nghĩa, tác dụng.

Pháp luật vể bảo đảm quy định, thông tin về biện pháp bảo đảm đã đăng ký được lưu giữ trong sổ đăng ký cơ sở dữ liệu và Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm. Cơ quan đăng ký có trách nhiệm cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm đã đăng ký theo yêu cầu của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình.

Riêng thông tin về biện pháp bảo đảm bằng dự án đầu tư xây dựng nhà ô, dự án đầu tư xây dựng công trình đã đăng ký (gồm tên dự án, địa chỉ của dự án, bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm, tài sản bảo đảm, thời điểm đăng ký) được công bố trên Trang thông tin điện tử của sở Tài nguyên và Môi trường chậm nhất là 5 ngày làm việc, kể từ thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm.

Bên cạnh đó, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 lại quy định, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng; không được cung cấp thông tin này cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng quy định, người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, trừ trưồng hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

Do đó, thông tin về giao dịch bảo đảm đặt cọc, đặt cược, ký quỹ, cầm cô, thế chấp, bảo lãnh và tín chấp, nếu thuộc trường hợp là khách hàng của các tổ chức tín dụng (riêng trường hợp người thứ ba bảo đảm cho nghĩa vụ của khách hàng thì chưa rõ) hoặc là người tiêu dùng, thì phải được bảo mật theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Năm 2016, sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã công bô" 77 dự án bất động sản xây dựng nhà ở đang thê" chấp tại ngân hàng đến ngày 08/6/2016. Việc công bô" này được thực hiện theo yêu cầu bằng văn bản của Văn phòng úy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cũng đã công bô" 34 dự án bất động sản xây dựng nhà ở đang thê" chấp tại ngân hàng đến ngày 29/7/2016.

Ngoài ra, lại chỉ có thông tin về thế chấp nhà đất, không có thông tin về việc thê" chấp quyền tài sản là quyền khai thác dự án, quyền tài sản là nhà ở và công trình xây dựng hình thành trong tương lai được đăng ký tại các Trung tâm đăng ký tài sản, giao dịch, Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp. Vì vậy, Hà Nội có 300 dự án, nhưng chỉ có thông tin về 34 dự án thế chấp.

Pháp luật quy định, cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình có quyền tìm hiểu hoặc yêu cầu cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm được lưu giữ trong số đăng ký, cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm và Hệ thống dữ liệu quốc gia về biện pháp bảo đảm.

Pháp luật chứng khoán quy định, cá nhân, tổ chức có quyền tìm hiểu hoặc yêu cầu cung cấp thông tin về chứng khoán đăng ký biện pháp bảo đảm tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam

4. Điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng là gì?

Điều khoản bảo mật trong hợp đồng là một phần nghĩa vụ cần triển khai theo hợp đồng hoặc nội dung công việc triển khai.

Các nội dung trong điều khoản cần được bảo mật trong hợp đồng có thể liên quan đến dữ liệu, công nghệ, bí quyết, ý tưởng,  thiết kế, hình chụp, phương án, phác thảo, quy cách,  bản vẽ, sơ đồ, báo cáo, vật mẫu, sách hướng dẫn, bí mật thương mại, logo công ty, nhãn hiệu hàng hóa, các nguồn và mã đối tượng, các thông tin kinh doanh và tiếp thị và mọi thông tin độc quyền dưới mọi hình thức dù bằng văn bản hoặc lời nói.

Mục đích chính của việc đặt ra những quy định, điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng nhằm tạo ra ràng buộc để bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý độc lập của các bên tham gia. Khi thực hiện cam kết sẽ có những giới hạn về thời gian, phạm vi bảo mật kế hoạch kinh doanh, bí mật công nghệ, mức bồi thường khi vi phạm điều khoản bảo mật thông tin.

Trong quá trình đàm phán khi nhận được thông tin bí mật của bên kia, bên nhận thông tin có nghĩa vụ bảo mật các thông tin đó trong hợp đồng và không được phép sử dụng cho các mục đích khác ngoài việc giao kết hợp đồng, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng

Điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng lao động

Các điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng lao động là loại điều khoản thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng lao động mà theo đó người lao động (NLĐ) đưa ra cam kết tuân thủ những giới hạn về việc tìm việc làm mới trong một giới hạn về thời gian, không gian, lĩnh vực để bảo vệ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh cho người sử dụng lao động  (NSDLĐ) và dự kiến những hậu quả pháp lý trong trường hợp NLĐ vi phạm cam kết này.

Tại khoản 2 Điều 23 Bộ luật lao động cũ quy định các bên ký kết hợp đồng lao động thỏa thuận một điều khoản giữ gìn bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh: 

“Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì NSDLĐ có quyền thỏa thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp NLĐ vi phạm”. 

Theo đó, NLĐ cam kết không tiết lộ các bí mật, thông tin kinh doanh của doanh nghiệp với bất kỳ ai nếu không được sự đồng ý của NSDLĐ. 

Đây là điều khoản được xây dựng với mục đích ngăn ngừa, hạn chế sự cạnh tranh không lành mạnh giữa NLĐ đã thôi không làm việc cho NSDLĐ, bảo vệ NSDLĐ cùng những lợi ích hợp pháp của họ. 

Căn cứ Khoản 2 Điều 23 bộ Luật lao động cũ cho phép NSDLĐ và NLĐ được ký các thỏa thuận về bảo mật thông tin khi NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp. 

Về hình thức: NLĐ và NSDLĐ có quyền lựa chọn các hình thức thỏa thuận bảo mật thông tin sao cho phù hợp với tính chất của công việc, mức độ chi tiết của thỏa thuận. Thỏa thuận bảo mật thông tin có thể dưới hình thức là một điều khoản trong hợp đồng hoặc là một thỏa thuận về bảo mật thông tin riêng biệt như:

- Ghi nhận tại hợp đồng lao động hoặc các phụ lục hợp đồng lao động. Trường hợp này, các bên thỏa thuận về điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng ngay từ khi bắt đầu quan hệ lao động hoặc trong quá trình làm việc các bên phát sinh nhu cầu cần thỏa thuận về bảo mật thông tin thì lúc này thỏa thuận của các bên được ghi nhận trong phụ lục của hợp đồng.

- Thiết lập một thỏa thuận hoặc cam kết độc lập.

- Thỏa thuận điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng chỉ được lập khi có sự tồn tại của quan hệ lao động (Không lập trước khi ký kết hợp đồng lao động hoặc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động).

Về nội dung: Khi hợp đồng lao động chấm dứt là lúc NLĐ phải thực hiện những nghĩa vụ đã thỏa thuận với NSDLĐ về bảo mật thông tin. Nội dung của thỏa thuận về bảo mật thông tin bao gồm:

- Phạm vi thông tin bảo mật, các tiêu chí để xác định các thông tin cần bảo mật.

- Thời gian, không gian cam kết bảo mật: Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định thời gian, không gian tuân thủ phù hợp. Việc đánh giá thực hiện sẽ dựa trên sự cân bằng lợi ích của 2 bên, đủ khả năng bảo vệ các thông tin, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo quyền của NLĐ.

- Cam kết và trách nhiệm bồi thường của NLĐ để cân nhắc đến nguyên tắc bồi thường giá trị tương xứng với thiệt hại, bên cạnh đó là phương thức phòng ngừa và xử lý đối với bên thứ ba khi cam kết bị vi phạm.

- Nghĩa vụ đối ứng của doanh nghiệp nhằm cân nhắc đến lợi ích của NLĐ khi ký kết, thực hiện thỏa thuận hạn bảo mật thông tin. NLĐ được nhận những lợi ích tương xứng với cam kết của họ là cơ sở tăng cường sự tuân thủ thỏa thuận.

Để điều khoản bảo mật được áp dụng vào thực tiễn, cụ thể là trong hợp đồng lao động giữa NLĐ và NSDLĐ thì cần phải bổ sung thêm các nội dung sau:

- NSDLĐ cần xây dựng điều khoản cam kết bảo mật một cách chi tiết, khoa học và đầy đủ thông tin, những quy định riêng biệt. Trong điều khoản bảo mật thông tin trong hợp đồng cần có các quy định cụ thể về các loại thông tin như thế nào thì cần được bảo mật, phương thức lưu giữ thông tin, phạm vi sử dụng thông tin, thời hạn bảo mật, quyền và nghĩa vụ chi tiết của các bên, các hành vi như thế nào sẽ vi phạm thỏa thuận, chế tài đủ tính răn đe phù hợp với từng hành vi vi phạm. NSDLĐ cũng cần liệt kê đầy đủ các tài liệu, thông tin được xem là “bí mật công nghệ”, “bí mật kinh doanh”  trong điều khoản bảo mật. Trường hợp NSDLĐ không thể liệt kê hết được phạm vi thông tin cần bảo mật thì có thể đưa ra những tiêu chí để xác định thông tin cần bảo mật.

+ Quy định cụ thể về thời gian và phạm vi địa lý có hiệu lực của điều khoản bảo mật tùy vào mỗi vụ việc, mỗi ngành nghề kinh doanh, vị trí chức vụ của nhân viên.

+ Quy định về các trường hợp điều khoản bảo mật trong hợp đồng bị vô hiệu. Việc NLĐ ký kết điều khoản bảo mật đồng nghĩa với việc họ chịu hạn chế không nhỏ trong việc tìm kiếm việc làm mới cho mình, NSDLĐ cần có quy định về khoản đền bù tài chính để dự trù trường hợp NLĐ nếu không tìm được việc làm trong khoảng thời gian thi hành điều khoản bảo mật sẽ có chi phí trang trải cuộc sống. 2 bên sẽ quy định mức để bù phụ thuộc vào từng loại chấm dứt hợp đồng lao động.

+ Quy định chế tài vi phạm và cơ quan giải quyết tranh chấp liên quan đến các điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động.