1. Người lao động bị sa thải có được trả lương không ?

Thưa Luật sư, năm nay tôi 23 tuổi, hiện đang đi làm tại một công ty may của Hàn Quốc. Tôi mới làm được một tuần, công ty trả lương theo sản phẩm. Trong thời gian bị bệnh tôi đã nghỉ mà không xin phép. Nếu công ty sa thải thì tôi có được chi trả lương những ngày tôi đã làm không trong khi hợp đồng của tôi vẫn chỉ là hợp đồng học việc?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Bị sa thải, người lao động có được trả lương những ngày đã làm?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động, gọi:1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Về hình thức kỷ luật sa thải.

Theo thông tin bạn cung cấp, trong thời gian bạn nghỉ chữa bệnh bạn không xin phép. Cho nên, bạn có thể bị sa thải với lý do theo khoản 4, điều 125 Bộ luật lao động 2019 :

"Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc,

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 365 ngày kể từ ngày tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

Tuy nhiên, bạn có giấy xác nhận của cơ sở khám chữa bênh có thẩm quyền thì bạn sẽ không bị sa thải.

Về việc trả lương những ngày bạn đã làm.

Theo Điều 47, Bộ luật lao động 2019 thì trong trường hợp bạn bị sa thải, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ như sa

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao lưu tài liệu do người lao động trả"

Theo đó, bạn sẽ được trả lương những ngày bạn đã làm việc, cụ thể là 1 tuần làm việc.

Thông tin bạn cung cấp có nói hợp đồng của bạn với công ty vẫn là hợp đồng học việc. Tuy nhiên, điều đó không ảnh hưởng đến việc được trả lương của bạn, bởi vì điều 61 được quy định như sau:

"Điều 61. Học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động

1. Học nghề để làm việc cho người sử dụng lao động là việc người sử dụng lao động tuyển người vào để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc. Thời gian học nghề theo chương trình đào tạo của từng trình độ theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

2. Tập nghề để làm việc cho người sử dụng lap động tuyển người vào để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vụ trí việc làm tại nơi làm việc. Thời hạn tập nghề không quá 03 tháng.

....

5. Trong thời gian học nghề, tập nghề, người tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động thì được người sử dụng lao động trả lương theo mực do hai bên thỏa thuận."

Như vậy, bạn vẫn được chi trả lương một tuần làm việc như bình thường.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động gây thiệt hại cho công ty ?

2. Tư vấn việc chậm thanh toán tiền lương và sa thải sai quy định ?

Thưa luật sư, Tôi là kỹ sư xây dựng tôi làm việc cho một công ty xây dựng tại quận 3 thành phố Hồ Chí Minh. Tôi làm việc gần như không có hợp đồng vì lúc ký hợp đồng công ty in bản hợp đồng sai ngày tháng sinh của tôi nhưng vì lý do công việc cũng như sự tin tưởng cũng như cần công việc nên tôi cũng không đòi sửa đổi và cũng không giữ lại bản hợp đồng nào.
Theo thoả thuận của công ty với tôi hợp đồng của tôi với công ty là hợp đồng không xác định thời hạn. Lương thực lãnh của tôi là 15.000.000( mười lăm triệu đồng) trong một tháng chưa trừ bảo hiểm. Bảng lương tôi ký nhận tiền với công ty tôi không có bản nào. Tôi làm việc ở công ty khoảng được 8 tháng, công ty có trừ bảo hiểm xã hội của tôi nhưng không đóng, công ty cũng không đóng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho tôi. Ngày 15/07/2015 sau khi nói chuyện với giám đốc công ty thì công ty cho tôi nghỉ việc, chỉ nói miệng với nhau, không báo trước, không có quyết định thôi việc, không được hưởng bất cứ khoản trợ cấp nào.
Công ty còn nợ lại tôi hai tháng rưỡi lương nhưng đến nay vẫn chưa chi trả. Khi thôi việc tôi chỉ có bảng xác nhận lương cuối cùng giữa tôi và bộ phận thanh toán tiền lương của công ty khoảng hơn 30.000.000( mươi triệu đồng) tôi đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin cũng như viết email gởi cho bộ phận thanh toán tiền lương cũng như cho giám đốc công ty nhưng tôi vẫn chưa nhận được tiền lương của mình, công ty hướng hẹn rất vòng vo, khi thích thì trả lời khi không thích thì không trả lời. Sổ bảo hiểm xã hội của tôi công ty cũng chưa trả lại cho tôi.
Tôi xin hỏi văn phòng tư vấn pháp luật hồ sơ pháp lý của tôi như vậy có đủ căn cứ để khởi kiện đòi thanh toán tiền lương hay không cũng như việc sa thải tôi như vậy công ty có phải thanh toán khoảng kinh phí nào cho tôi hay tôi chỉ nhận được khoản tiền lương nào không? Nếu khởi kiện được thì thủ tục khởi kiện như thế nào ?
Kính mong công ty hỗ trợ giúp tôi.Tôi xin thành thật cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

- Trước hết về việc bạn lao động tại công ty mà được coi gần như "không có hợp đồng lao động". Như vậy là có sai phạm ở đây, căn cứ quy định tai bộ luật lao động 2019:

Khoản 1, Điều 14 Bộ luật lao động 2019 quy định, trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động. Hơn nữa luật còn quy định như sau:

"Điều 14 Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 điều 18, điểm a khoản 1 điều 145 và khoản 1 điều 162 của Bộ luật này."

-> Trong hợp đồng lao động của anh đã có thảo thuận đây là hợp đồng không xác định thời hạn, có thỏa thuận về mức lương là 15 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên bảng lương ký nhận tiền với công ty hàng tháng anh không có bản nào. Công ty có trừ bảo hiểm xã hội của anh nhưng không đóng, cũng không đóng bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, như vậy phát hiện thấy nhiều sai phạm về pháp luật lao động.

Đối chiếu theo quy định của luật bảo hiểm xã hội anh là đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.

Theo quy định tại Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc gồm:

" Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên."

- Điều 134 Luật BHXH quy định các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH gồm: Không đóng; Đóng không đúng thời gian quy định; Đóng không đúng mức quy định; Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH.

Thẩm quyền thanh tra, kiểm tra

Theo Điều 214 Bộ Luật lao động năm 2019, Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật; Xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về lao động.

- Mức xử phạt vi phạm hành chính:

Nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Tại khoản 1 Điều 5 có quy định:

"Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 1 người đến 10 người lao động..."

- Về việc chậm thanh toán tiền lương và quyết định sa thải không có căn cứ:

Nguyên tắc trả lương quy định trong luật lao động:

"Điều 94. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn.

Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương."

- Quyết định sa thải

Quy định tại điều 125 bộ luật lao động năm 2019.

+ Việc sa thải đúng luật là Doanh nghiệp phải chứng minh được lỗi là của người lao động một cách khách quan, chính xác thông qua cuộc họp xử lý vi phạm pháp luật giữa người lao động và ban chấp hành công đoàn cơ sở. Biên bản cuộc họp này sẽ có chữ ký của người lao động vi phạm, công đoàn cơ sở, người đại diện doanh nghiệp.

+ Quyết định sa thải phải rõ ràng, chi tiết cả về hình thức lẫn nội dung như căn cứ xét kỷ luật sa thải, ngày giờ ra quyết định, tên tuổi, chức vụ, người vi phạm, hành vi vi phạm… Sau khi sa thải, công ty bạn phải báo cáo cho cơ quan quản lý Nhà nước về lao động.

-> Như vậy để khởi kiện người sử dụng lao động về hanh vi vi phạm về nguyên tắc anh cần chứng minh được có quan hệ lao động ở đây. Tồn tại quan hệ lao động thì sẽ kéo theo vi phạm và xử lý vi phạm. Hiện tại thủ tục khởi kiện anh căn cứ vảo những giấy tờ sau:

+ Mẫu đơn xin khởi kiện

+ Bảng xác nhận lương cuối cùng giữa anh và bộ phận thanh toán tiền lương của công ty. (khoảng hơn 30.000.000đ)

+ Những tin nhắn, email, cuộc gọi giữa 2 bên về việc chậm thanh toán lương.

+ Những giấy tờ khác nếu còn chứng minh quan hệ lao động giữa nh và công ty.

- Tòa án có thẩm quyền: Tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở.

-> Nếu như vụ việc của anh được tòa án thụ lý, sai phạm thuộc phía công ty thì trách nhiệm của họ quy định cụ thể tại :

Điều 41 Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này."

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị công ty sa thải vào dịp cuối năm, nhân viên được hưởng quyền lợi gì?

3. Tư vấn về việc sa thải lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi về trường giảng dạy năm 2011. Hết thời gian tập sự, tôi đươc xét vào viên chức tháng 1/2013. Đến ngày 25/11/2014 tôi xin nghỉ thai sản.

Trong thời gian nghỉ tôi được thông báo thi lại viên chức vì trường hợp của tôi vào viên chức không đúng quy định. Ngày 11/01/2015 thì tổ chức thi, nhưng ngày 20/01/2015 tôi sinh khó và phải mổ nên không thi được. Vì vậy tôi bị trượt và Sở giáo dục ra quyết định đuổi việc, không cho tôi tiếp tục giảng dạy sau này.

Vậy tôi muốn hỏi là:

1. Sở giáo dục và nhà trường đã cắt hợp đồng trong khi tôi đã kí hợp đồng không thời hạn và đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng là đúng hay sai ?

2. Làm thế nào để tôi tiếp tục được đi dạy lại sau thời gian nghỉ hộ sản ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: huyen bui

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Khoản 3 Điều 29 Luật Viên chức năm 2010 quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc đối với viên chức như sau:

Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập không được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức trong các trường hợp sau:

a) Viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn, đang điều trị bệnh nghề nghiệp theo quyết định của cơ sở chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này;

b) Viên chức đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

c) Viên chức nữ đang trong thời gian có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động

Cùng với đó, Bộ luật lao động 2019 cũng quy định các trường hợp người sử dụng lao động không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với người lao động bao gồm:

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Lao động nữ quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật này.

4. Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, pháp luật lao động còn đưa ra các quy định bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản tại điều 158 Bộ luật lao động:

Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản.

Như vậy, trừ trường hợp trường học nơi bạn đang công tác giảng dạy không còn hoạt động, nhà trường không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với bạn trong thời gian bạn đang có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 36 tháng tuổi; mà còn phải bảo đảm việc làm cũ cho bạn sau khi kết thúc thời gian thai sản. Do đó bạn cần tìm đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền lợi bản thân.

Điều 179 Luật Lao động năm 2019 quy định về giải quyết tranh chấp liên quan tới hợp đồng làm việc như sau:

Tranh chấp liên quan đến việc ký kết, thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc được giải quyết theo quy định của pháp luật về lao động.

Như vậy, trường hợp của bạn cần được giải quyết theo các quy định tại Chương XVI Bộ Luật Lao động 2019 về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, cụ thể, bạn có thể giải quyết thông qua hòa giải viên lao động hoặc trực tiếp gửi đơn khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có trụ sở trường học mà bạn đang công tác theo nguyên tắc của pháp luật lao động và pháp luật tố tụng dân sự.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trợ cấp thôi việc đối với nhân viên bị sa thải có tính vào chi phí được trừ của doanh nghiệp.

4. Tại sao công ty cho nghỉ việc nhưng ra quyết định sa thải ?

Xin chào Luật sư. Tôi hiện tôi sống và làm việc tại bình dương, tuần qua tôi có xin công ty cho nghỉ 2 tuần vì lý do cá nhân, sau khi quản lý và tổng giám đốc kí đơn cho nghỉ 2 tuần. Sau buổi sáng lại làm việc một ông sếp trong công ty nói ông không đồng ý cho tôi nghỉ và ông đòi sa thải tôi. Nếu tôi nghỉ thì tôi được hưởng chế độ gì không?.
Mong luật sư tư vấn cho tôi trường hợp này ạ!.

>>Luật sư tư vấn Luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 115, Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Điều 115. Nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương

1. Người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn hưởng nguyên lương trong những trường hợp sau đây:

a) Kết hôn: nghỉ 03 ngày;

b) Con kết hôn: nghỉ 01 ngày;

c) Bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng chết; vợ chết hoặc chồng chết; con chết: nghỉ 03 ngày.

2. Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết; bố hoặc mẹ kết hôn; anh, chị, em ruột kết hôn.

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này người lao động có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

Trong trường hợp bạn nghỉ việc riêng có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động về việc nghỉ không hương lương, nếu đã được sự đông ý thì ban hoàn toàn có quyền nghỉ việc riêng và không được hưởng lương đối với những ngày bạn đã nghỉ. Bộ luật lao động quy định về các trường hợp người sử dụng lao động áp dụng hình thức sa thải đối với người lao động như sau:

Điều 125. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc,

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 365 ngày tính từ ngày đầu tiên bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Căn cứ theo quy định trên, việc bạn nghỉ việc riêng có xin phép nhưng người sử dụng lao động lại ra quyết định sa thải bạn không thuộc trường hợp nào được quy định tại Điều 125 nêu trên, nên đây là trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trường hợp bạn nghỉ việc do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ sau:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Căn cứ theo quy định trên bạn sẽ được hưởng:

-Trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

-Tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

-Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

5. Không thông báo nôi quy lao động đến người lao động có được xử lí kỉ luật người lao động khi vi phạm?

Căn cứ pháp lí: Điều 118, Bộ luật lao động năm 2019

"1. Người sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản.

2. Nội dung nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động và quy định của pháp luật có liên quan. Nội quy lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:

a) Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

b) Trật tự tại nơi làm việc;

c) An toàn, vệ sinh lao động;

d) Phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc;

đ) Việc bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động;

e) Trường hợp được tạm thời chuyển người lao động làm việc khác so với hợp đồng lao động;

g) Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động và các hình thức xử lý kỷ luật lao động;

h) Trách nhiệm vật chất;

i) Người có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động.

3. Trước khi ban hành nội quy lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

4. Nội quy lao động phải được thông báo đến người lao động và những nội dung chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Như vậy theo quy định nêu trên để xử lý kỷ luật người lao động theo nội quy lao động thì doanh nghiệp phải lập nội quy lao động bằng văn bản, lấy ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở, đăng ký nội quy lao động theo quy định pháp luật và phải thông báo nội quy lao động đến người lao động và những nội dung chính phải được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc mới được áp dụng xử lý kỷ luật người lao động theo nội quy lao động.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người lao động sau khi bị sa thải thì công ty có trách nhiệm giải quyết và thanh toán toàn bộ tiền lương trong vòng bao lâu cho người lao động ?