1. Công ty có được giữ sổ bảo hiểm xã hội khi sa thải lao động ?

Chào Luật sư! Tôi có một câu hỏi muốn nhờ Luật sư giải đáp. Tôi làm việc ở công ty X theo hợp đồng xác định thời hạn 2 năm (từ tháng 9/2017), mới đây do bận một số công việc nên tôi đã nghỉ liên tục 6 ngày trong một tháng. Sau đó, công ty ra quyết định sa thải với lý do tôi nghỉ quá 05 ngày cộng dồn trong 1 tháng. Đã có quyết định sa thải nhưng công ty lần lữa mãi không chịu chốt và trả sổ bảo hiểm xã hội cho tôi.
Vậy cho tôi hỏi khi bị sa thải công ty có được giữ lại sổ bảo hiểm xã hội của người lao động hay không?
Cảm ơn và mong nhận sự tư vấn của luật sư.

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc công ty áp dụng hình thức sử lý kỷ luật sa thải đối với bạn.

Điều 125 Bộ luật lao động 2019 quy định về việc áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải như sau:

"Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;

2. Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;

3. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;

4. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

Trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm thiên tai, hỏa hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động."

Như vậy, căn cứ theo khoản 4 Điều 125 Bộ luật lao động 2019 thì nếu bạn nghỉ việc 6 ngày trong một tháng mà không có lý do chính đáng, người sử dụng lao động áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải là không trái với quy định pháp luật.

Thứ hai, khi áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải công ty vẫn có trách nhiệm trả lại sổ bảo hiểm xã hội và các giấy tờ liên quan cho bạn.

Điều 48 Bộ Luật lao động 2019 quy định như sau:

"Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả."

Như vậy, trong trường hợp công ty không tiến hành trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn, bạn có thể tiến hành làm đơn khiếu nại tới phòng lao động thương binh và xã hội nơi công ty đặt trụ sở để yêu cầu giải quyết.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn về xử lý kỷ luật, sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trực tuyến miễn phí

2. Tư vấn về việc sa thải lao động và các nghĩa vụ liên quan ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi làm việc tại Công ty AH từ năm 2010 đến 3/3/2015 thì bị sa thải. Lý do: Lợi dụng chức vụ Trưởng phòng, chuyển KH sang đối thủ, biển thủ tiền.

Ngược trở lại thời điểm cuối năm 2012 và năm 2013 khi tôi sinh con, công nợ của khách hàng (KH) khó đòi, các hợp đồng (HĐ) do tôi phụ trách công ty trừ 100% giá trị HĐ vào lương của tôi (trừ các tháng - số tiền 30tr đồng mà ko tính chỉ trả giá vốn). Lúc đó tôi thực sự bất mãn). Tất cả các công nợ theo quy định công ty qua 3 tháng thì trừ vào lương nhân viên.

Năm 2014 tôi quay trở lại làm việc thì tôi bắt đầu thu công nợ của các KH mới (Công nợ của KH cũ đã trừ lương của tôi xong) và tôi giữ lại một số KH với ý định trả dần chứ không trả ngay. Công ty các tháng cuối năm 2014 bắt đầu lại trừ vào lương.

Khi sa thải tôi, tôi đã trả hết công nợ vào 05/03 số tiền hơn 50 triệu và nghỉ. Công ty làm biên bản phạt tôi ko trả lương tháng 2, không trả bảo hiểm và nói sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tôi ko trả hết công nợ trong tháng 3 (tôi đã trả vào 05/3). Họ còn muốn phạt tôi 100k/ ngày tính từ thời gian KH đã trả tôi mà tôi ko đưa về cty cho đến 05/03.

Trong thơi gian 05 năm tôi làm tôi ở vị trí TP và giám đôc sTT sở hữu TT (TT này ko đủ hồ sơ pháp lý nên tôi ko dám lấy danh nghĩa đó đi làm, đã từng ký một HĐ nhưng sau đó phải lấy tư cách cá nhân ra làm cho họ - nhân viên phụ trachs HD của công ty đó bảo tôi là làm cá nhân)

Tôi xin hỏi:

1. Tôi đã trả hết công nợ như vậy thì tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

2. Và theo luật thì công ty có quyền giữ lương và bảo hiểm của tôi ko?

3. Nếu họ bắt tôi trả vi phạm 100k/ ngày x số ngày chậm tôi ko thực hiện có được không?

Ngoài ra vào 05/03 chị giám đốc hiện tại gọi tôi vào nói căn cứ vào thái độ hợp tác của tôi để xem xét việc trả bảo hiểm cho tôi khi tôi tha thiết xin lại. Tôi thực sự bối rối nên ngoan ngoãn ky vào biên bản và hiểu rằng nếu tôi trả trong ngày 05/03 thì sẽ ko bị phạt 100k/ ngày.

Tôi rất mong được luật sư viện dẫn các điều luật và tư vấn cụ thể cho tôi sớm. Kính chúc sức khỏe luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đ.T.T.

Tư vấn thủ tục thành lập

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi, đối với vấn đề này chúng tôi giải đáp như sau:

Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội tham ô tài sản như sau:

"Điều 353. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm."

Theo như quy định của điều luật này, đối với những người có trách nhiệm quản lý tài sản mà chiếm đoạt chính tài sản đó thì trong một số trường hợp nhất định sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo đó, tại điểm a khoản 1 điều luật trên, nếu bạn chiếm đoạt tài sản trong phạm vi mình trực tiếp quản lý có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu nhưng bạn đã từng bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong những tội phạm tham nhũng thì bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tham ô tài sản.

Trong trường hợp của bạn, vì một số lý do khách quan mà bạn giữ công nợ của khách hàng và không thanh toán ngay cho công ty đúng như quy định. Số tiền mà bạn giữ của công ty là 50 triệu, trường hợp này, nếu bạn không thanh toán theo đúng như nội quy của công ty thì có thể bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo như quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Thứ hai, công ty không có quyền giữ lương và sổ bảo hiểm của bạn

Bởi theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 thì:

"Điều 48. Trách nhiệm khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả."

Việc bạn bị công ty sa thải cũng là một trong những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động. Theo như quy định này, bạn phải thanh toán đầy đủ công nợ của khách hàng mà bạn đã thu giữ, và số tiền phạt của công ty nếu như việc giữ công nợ trên làm ảnh hưởng xấu, gây thiệt hại cho công ty, nếu nội quy công ty có quy định về trường hợp này thì dù đã bị sa thải, bạn vẫn phải thực hiện theo quy định đó. Về phía công ty, thì theo như tại Khoản 2 Điều 127 Bộ luật lao động có quy định cấm khi xử lý kỷ luật lao động: "Phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động". Như vậy, việc công ty trừ vào lương của bạn là trái quy định của pháp luật, như vậy, sau khi có quyết định sa thải bạn, thì phải hoàn lại sổ bảo hiểm và hoàn trả đù tiền lương cho bạn.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định kỷ luật

3. Tư vấn về việc sa thải người lao động nữ đang mang thai ?

Thưa Luật sư, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi đang làm việc tại công ty cổ phần sản xuất kim khí SKP thời gian ký hợp đồng đến thời điểm này là 8 tháng, và tôi đang có thai được 6 tháng, bây giờ công ty quyết định cho tôi nghỉ việc, lý do nghỉ việc là tôi viết đơn nghỉ đi khám thai 1 ngày nhưng ngày hôm sau tôi lại nghỉ thêm 1 ngày nữa lý do đau bụng vì vậy giám đốc bảo cho tôi nghỉ việc luôn.
Tôi muốn hỏi công ty làm như vậy đúng hay sai ? Trong thời gian làm việc tôi không có sảy ra sai sót gì cả. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: T.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đang có thai được 6 tháng, bây giờ công ty quyết định cho bạn nghỉ việc, lý do nghỉ việc là bạn viết đơn nghỉ đi khám thai 1 ngày nhưng ngày hôm sau bạn lại nghỉ thêm 1 ngày nữa lý do đau bụng. Việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng với bạn với lý do như vậy là không đúng với quy định của pháp luật. Cụ thể Điều 35 Bộ luật Lao động 2019 có quy định:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hp đồng lao động trong trưng hợp quy đnh tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác đnh thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động."

Mặt khác, khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

"Điều 37. Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

...

3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Như vậy công ty đã đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn trái pháp luật. Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì công ty có nghĩa vụ sau đây:

"Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động."

>> Xem thêm:  Bị công ty cho nghỉ việc ngang thì phải làm sao ?

4. Những vấn đề về xử lý kỷ luật sa thải người lao động

Sa thải là một trong những hình thức xử lý kỷ luật lao động; và đây là một biện pháp xử lý nặng nhất đối với người lao động có hành vi vi phạm quy định của pháp luật lao động, nội quy lao động.

Chỉ được xử lý kỷ luật sa thải khi đáp ứng một trong các căn cứ sau đây:

+ Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy trong phạm vi nơi làm việc; tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động; có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động.

+ Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm. Ở đây được hiểu là người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật

Điều kiện để được xóa kỷ luật: bị khiển trách sau 3 tháng; hoặc bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương sau 6 tháng kể từ ngày bị xử lý; nếu không tái phạm thì đương nhiên được xóa kỷ luật; bị xử lý kỷ luật cách chức thì sau 3 năm nếu tiếp tục vi phạm thì không bị coi là tái phạm.

- Người lao động tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong phạm vi 30 ngày kêt từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày cộng dồn trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng

Được coi là có lý do chính đáng khi thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Do thiên tai, hỏa hoạn

+ Bản thân, bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, bố mẹ vợ, bố mẹ chồng, chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm có giấy xác nhân của cơ sở khám chữa bệnh được thành lập, hoạt động theo quy định pháp luật.

+ Các lý do được quy định trong nội quy lao động của mỗi đơn vị sử dụng lao động

Tuy nhiên, đối với một số đối tượng đặc biệt thì ngay cả khi thỏa mãn các căn cứ sa thải như trên thì người sử dụng lao động cũng bị hạn chế trong việc quyết định sa thải nếu người lao động thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 122 Bộ luật lao động 2019:

+ Nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người sử dụng lao động;

+ Đang bị tạm giữ, tạm giam;

+ Đang chờ kết quả của cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành vi vi phạm được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Lao động

+ Người lao động nữ mang thai; người lao động nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

+ Người lao động vi phạm kỷ luật lao động trong khi mc bệnh tâm thn hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

Để xử lý kỷ luật sa thải lao động người sử dụng lao động phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Phải chứng minh được lỗi của người lao động (theo căn cứ kể trên)

- Gửi thông báo bằng văn bản ít nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật sa thải cho: tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở, người lao động (trường hợp người lao động dưới 18 tuổi phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật)

- Cuộc họp phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở, người lao động; người lao động dưới 18 tuổi phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật)

- Nếu người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động được tiến hành cuộc họp vắng mặt họ; chỉ trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật.

- Việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản, được ký bởi những người tham dự và người lập biên bản, nếu có người không ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do.

Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm thì người sử dụng lao động phải tiến hành việc xử lý sa thải; đối với trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ thì thời hiệu xử lý được kéo dài tối đa 12 tháng.

Hậu quả của việc bị sa thải đối với người lao động: sa thải cũng là một trong những căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động; trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động do bị sa thải thì sẽ không được trả trợ cấp thôi việc.

Bởi sa thải là hình thức xử lý kỷ luật cao nhất, đó là chế tài áp dụng đối với người lao động có hành vi vi phạm xâm phạm đến quyền lợi của người sử dụng lao động, nội quy lao động. Vì thế ngay cả khi là một căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động nhưng chấm dứt khi sa thải hoàn toàn do lỗi của người lao động nên không được chi trả trợ cấp thôi việc.

Trên thực tế, không phải lúc nào việc sa thải cũng được diễn ra suôn sẻ mà có rất nhiều trường hợp xảy ra tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động. Về nguyên tắc khi xảy ra tranh chấp lao động giữa người lao động và đơn vị sử dụng lao động thì buộc phải thông qua thủ tục hòa giải tại hòa giải viên lao động; tuy nhiên đối với tranh chấp lao động về vấn đề sa thải thì là ngoại lệ- tức không bắt buộc phải thông qua hòa giải tại hòa giải viên lao động.

Vì vậy khi có tranh chấp về việc sa thải thì cá nhân người lao động hoặc người sử dụng lao động có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cứ trú của bị đơn để giải quyết. Thời hạn để yêu cầu Tòa án giải quyết là 6 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ trực tiếp với đội ngũ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn trực tiếp.

5. Hết thời hiệu xử lý kỷ luật lao động có được sa thải người lao động?

Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động được quy định tại Điều 123 Bộ luật Lao động 2019 như sau:

'Điều 123. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động

1. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng.

2. Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật này, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

3. Người sử dụng lao động phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này."

Sa thải là một trong số những hình thức xử lý kỷ luật theo quy định của Bộ luật Lao động 2019 nên nếu người lao động thuộc một trong những trường hợp bị xử lý kỷ luật sa thải thì người sử dụng lao động cần phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn theo quy định tại Điều 123, thời hiệu xử lý kỷ luật lao động được tính từ ngày xảy ra hành vi vi phạm. Quá thời hạn theo quy định, người sử dụng lao động không thể ra quyết định xử lý kỷ luật với người lao động.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc Công ty không trả tiền lương cho người lao động?