1. Bị tai nạn lao động do mất điện thì có được bồi thường không?
Theo Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH, các trường hợp được bồi thường tai nạn lao động được quy định như sau:
- Người lao động bị tai nạn lao động làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên: Trường hợp này áp dụng khi người lao động gặp tai nạn trong quá trình làm việc và do tai nạn đó, khả năng lao động của họ giảm từ 5% trở lên. Đây có thể là các tai nạn lao động gây ra tổn thương, thương tật hoặc mất khả năng lao động một phần.
- Người lao động bị chết do tai nạn lao động không hoàn toàn do lỗi của chính họ gây ra: Trường hợp này áp dụng khi người lao động tử vong do tai nạn lao động, tuy nhiên, nguyên nhân gây ra tai nạn không hoàn toàn do lỗi của chính người lao động này. Ví dụ, tai nạn xảy ra do lỗi của người sử dụng lao động hoặc các nguyên nhân khách quan khác.
Và căn cứ theo Điều 40 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, có các trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động như sau:
- Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này nếu bị tai nạn với một trong các nguyên nhân sau đây:
+ Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động: Trường hợp này xảy ra khi người lao động bị tai nạn do mâu thuẫn cá nhân, xung đột với một người khác không phải là người sử dụng lao động, và nguyên nhân không liên quan đến việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ lao động.
+ Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân: Trường hợp này xảy ra khi người lao động tự ý gây tổn thương hoặc tổn hại sức khỏe của mình mà không phụ thuộc vào hành vi của người khác.
+ Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật: Trường hợp này xảy ra khi người lao động bị tai nạn do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác mà việc sử dụng đó vi phạm quy định của pháp luật.
Và dựa theo quy định tại Điều 45 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, để được hưởng chế độ tai nạn lao động, người lao động phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Bị tai nạn trong một trong các trường hợp sau đây:
+ Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc: Người lao động gặp tai nạn khi đang làm việc tại địa điểm làm việc và trong thời gian làm việc, bao gồm cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc. Điều này bao gồm các hoạt động như nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, và đi vệ sinh.
+ Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động: Người lao động gặp tai nạn khi thực hiện công việc bên ngoài địa điểm làm việc hoặc ngoài giờ làm việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền và có văn bản chứng minh quyền lực quản lý lao động.
+ Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý: Người lao động gặp tai nạn trên tuyến đường di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong một khoảng thời gian hợp lý và trên một tuyến đường hợp lý.
- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn: Người lao động phải chứng minh được sự suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn theo quy định tại khoản 1 của Điều này.
- Không thuộc các nguyên nhân không được hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Người lao động không được hưởng chế độ nếu thuộc một trong các nguyên nhân không được chấp nhận hưởng chế độ tai nạn lao động quy định tại khoản 1 của Điều 40 của Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015. Các nguyên nhân bao gồm mâu thuẫn cá nhân không liên quan đến công việc, tự hủy hoại sức khỏe của bản thân, và sử dụng ma túy hoặc chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy theo quy định thì tai nạn lao động do mất điện có thể được coi là một trường hợp được bồi thường, tuy nhiên, việc được bồi thường phụ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn gây ra và các điều kiện khác. Để được bồi thường, người lao động bị tai nạn do mất điện cần đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Bị tai nạn trong môi trường làm việc: Tai nạn do mất điện xảy ra trong quá trình làm việc, tại địa điểm làm việc hoặc trong khi thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc (nếu được phép theo quy định của Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh).
- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên: Người lao động cần chứng minh rằng tai nạn mất điện đã gây suy giảm khả năng lao động của mình từ 5% trở lên. Sự suy giảm này phải được xác định và chứng minh bởi các cơ quan y tế có thẩm quyền.
- Không thuộc các trường hợp không được bồi thường: Người lao động không nằm trong các trường hợp không được hưởng chế độ tai nạn lao động theo quy định tại Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
2. Nguyên tắc bồi thường tai nạn lao động do mất điện
Theo quy định của Thông tư 28/2021/TT-BLĐTBXH về nguyên tắc bồi thường tai nạn lao động như sau: Nguyên tắc bồi thường cho tai nạn lao động là việc bồi thường sẽ được thực hiện sau mỗi vụ tai nạn xảy ra, không tính cộng dồn các vụ tai nạn đã xảy ra từ trước đó. Điều này có nghĩa là mỗi vụ tai nạn sẽ được xem xét và đánh giá độ nghiêm trọng và mức đền bù tương ứng sẽ được trả cho người lao động.
Như vậy, nguyên tắc bồi thường cho tai nạn lao động sẽ được thực hiện sau mỗi vụ tai nạn lao động xảy ra. Điều này có nghĩa là mỗi vụ tai nạn sẽ được xem xét độ nghiêm trọng và mức đền bù tương ứng sẽ được trả cho người lao động. Các vụ tai nạn không được tính cộng dồn với nhau, tức là không tính toàn bộ các vụ tai nạn đã xảy ra từ trước đó để xác định mức đền bù. Nguyên tắc bồi thường cho tai nạn lao động do mất điện:
- Đối với tai nạn lao động do mất điện, nguyên tắc bồi thường tương tự áp dụng. Mức đền bù sẽ căn cứ vào mức suy giảm khả năng lao động từ lần khám sức khỏe ban đầu và mức suy giảm khả năng lao động tăng lên từ kết quả giám định lần trước. Cụ thể, khi xảy ra vụ tai nạn lao động do mất điện, người lao động sẽ được khám sức khỏe ban đầu để xác định mức suy giảm khả năng lao động hiện tại. Dựa trên kết quả này, mức đền bù ban đầu sẽ được xác định.
- Từ lần khám sức khỏe thứ hai trở đi, người lao động sẽ tiếp tục được khám định kỳ để xác định mức suy giảm khả năng lao động tiếp tục tăng lên so với kết quả giám định lần trước. Sự chênh lệch này sẽ được sử dụng để tính toán và bồi thường phần chênh lệch mức suy giảm khả năng lao động.
=> Với nguyên tắc bồi thường tai nạn lao động, mỗi vụ tai nạn sẽ được xem xét và đánh giá riêng biệt để xác định mức đền bù. Đối với tai nạn lao động do mất điện, việc bồi thường sẽ dựa trên mức suy giảm khả năng lao động từ lần khám sức khỏe ban đầu và mức suy giảm khả năng lao động tăng lên từ kết quả giám định lần trước.
3. Trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động do mất điện cho người lao động
3.1. Trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động
Theo quy định tại Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động cụ thể như sau:
- Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.
- Thanh toán chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Điều này bao gồm thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế, trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động, và thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.
- Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động.
- Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp theo mức quy định. Mức bồi thường được xác định dựa trên mức suy giảm khả năng lao động của người lao động và có các mức bồi thường khác nhau tùy thuộc vào mức độ suy giảm.
- Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động do lỗi của chính họ gây ra.
- Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định.
- Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người.
- Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc.
- Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định.
- Đảm bảo tiền lương để thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Như vậy, người sử dụng lao động phải đảm bảo việc sơ cứu và cấp cứu ngay lập tức cho người lao động bị tai nạn lao động do mất điện. Điều này bao gồm cung cấp các biện pháp cứu hộ, phục hồi sự sống và chăm sóc y tế ban đầu cho người bị tai nạn. Người sử dụng lao động phải chi trả toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu cho đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động. Điều này bao gồm việc thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế. Và người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động do mất điện trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động. Điều này đảm bảo rằng người lao động không mất thu nhập trong quá trình điều trị và phục hồi. Đồng thời, người sử dụng lao động có trách nhiệm bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động do mất điện. Mức độ bồi thường sẽ được xác định dựa trên mức độ thiệt hại gây ra cho người lao động, như mất sức lao động, tổn thương về sức khỏe, hay các hậu quả khác do tai nạn gây ra. Trách nhiệm bồi thường chi tiết trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động do mất điện sẽ được quy định cụ thể theo luật và các quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
3.2. Trách nhiệm bồi thường của bên bảo hiểm
Theo Điều 45 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, để được Bảo hiểm xã hội (BHXH) chi trả chế độ tai nạn lao động, người lao động phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Bị tai nạn trong một trong các trường hợp sau đây:
+ Tai nạn xảy ra tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, bao gồm cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc theo quy định của Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh. Điều này bao gồm các hoạt động như nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh.
+ Tai nạn xảy ra ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi người lao động thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động.
+ Tai nạn xảy ra trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn theo quy định tại khoản 1 điều này.
- Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.
Trách nhiệm bồi thường của bên bảo hiểm đối với người lao động bị tai nạn lao động do mất điện sẽ tuỳ thuộc vào các điều khoản và điều kiện được quy định trong hợp đồng bảo hiểm.
- Bên bảo hiểm sẽ chi trả các chi phí y tế và điều trị liên quan đến hậu quả của tai nạn lao động do mất điện, bao gồm chi phí khám bệnh, thuốc men, chụp X-quang, phẫu thuật, điều trị hồi phục và các dịch vụ y tế khác cần thiết.
- Trong trường hợp người lao động không thể tiếp tục công việc do hậu quả của tai nạn lao động do mất điện, bên bảo hiểm có thể chi trả trợ cấp thay thế thu nhập để bù đắp mất mát thu nhập của người lao động trong thời gian hồi phục và tái hòa nhập vào công việc.
- Bên bảo hiểm có thể cung cấp các dịch vụ và phương pháp phục hồi chức năng cho người lao động bị tai nạn do mất điện, nhằm giúp họ hồi phục và tái lập khả năng làm việc.
Trách nhiệm bồi thường của bên bảo hiểm cụ thể sẽ được quy định chi tiết trong điều khoản và điều kiện của hợp đồng bảo hiểm tai nạn lao động. Người lao động bị tai nạn lao động do mất điện nên tham khảo và liên hệ với bên bảo hiểm để được tư vấn và hướng dẫn cụ thể về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường của mình trong trường hợp này.
Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh khuê: Bị tai nạn lao động thì người lao động có được trả lương không ?
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!