1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật lao động năm 2019" được đồng chủ biên bởi PGS.TS Nguyễn Hữu Chí và TS. Nguyễn Văn Bình.
Tập thể tác giả gồm:
PGS.TS Nguyễn Hữu Chí: GIảng viên cao cấp, nguyên trưởng khoa Pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội
TS. Nguyễn Văn Bình: Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
TS. Đỗ Ngân Bình: Phó Giám đôccs trung tâm Tư vấn pháp luật trường Đại học Luật Hà Nội
TS. Đỗ Thị Dung: Giảng viên cao cấp, bộ môn Luật lao động Trường Đại học Luật Hà Nội
ThS.Nguyễn Huy Hưng: Cục trưởng Cục Quan hệ lao động và tiền lương Bộ lao động thương binh và xã hội
ThS Bùi Thị Hoàn: Chuyên viên Cục Quan hệ lao động và Tiền lương Bộ lao động Thương bình và xã hội
ThS Ngô Hoàng: Phps Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ lao động thương binh và xã hội
PGS.TS Trần Thị Thúy Lâm: Giảng viên cao cấp, Trưởng bộ môn Luật lao động Trường Đại học luật Hà Nội
ThS Mai Đức Thiện: Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ lao động thương binh v à xã hội
ThS. Phạm Thị Thanh Việt: Phó Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ lao động thương binh và xã hội.
2. Hình ảnh cuốn sách
.jpg)
Nhà xuất bản: Tư Pháp
Ngày xuất bản: 5. 2021
Giá bìa: 220.000 đ
3. Tổng quan về nội dung sách
Bộ luật lao động năm 2019 đánh dấu sự phát triển khung khổ pháp lý quản trị thị trường lao động trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sau hơn 30 năm đổi mới. Lần đầu tiên Bộ luật Lao động mở rộng đối tượng điều chỉnh cả người làm việc không có quan hệ lao động, tạo cơ chế pháp lý bảo vệ tốt hơn quyền bảo đảm an sinh xã hội để thể chế hóa sự tôn trọng, bảo vệ của Nhà nước đối với quyền lao động của mọi công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, là sự tiếp cận, thích ứng với sự thay đổi của các hình thức việc làm mới, thúc đẩy sự liên thông, hội nhập của thị trường lao động hiện đại; đồng bộ với hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật bảo hiểm xã hội, Luật việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động. Các quy định của Bộ luật lao động phù hợp và hài hòa hơn với các nguyên tắc của cơ chế thị trường, bảo vệ và trao quyền tự chủ cho các bên trong quan hệ lao động tự quyết định các vấn đề cụ thể về tiền lương và các điều kiện lao động khác thông qua đối thoại, thương lượng; bảo đảm phù hợp, tiệm cận với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, nhất là các tiêu chuẩn lao động cơ bản.
Cuốn sách "Bình luận Bộ luật lao động năm 2019" do tập thể tác giả - những người trực tiếp tham gia trong quá trình xây dựng Bộ luật lao động, có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và giảng dạy pháp luật lao động đã biên soạn.
Thông qua việc mô tả, giải thích nội dung của từng điều luật, cuốn sách còn cung cấp các thông tin đa dạng của điều luật như: yếu tố lịch sử và hiện tại của vấn đề; những khía cạnh lý luận, thực tiễn trong nước và quốc tế, những đánh giá, bình luận có góp ý, những lưu ý trong việc thực thi và những thông tin liên quan khác giúp cho việc hiểu, nắm bắt và thực thi những quy định của Bộ luật lao động được chính xác, phù hợp và đầy đủ. (trích lời giới thiệu của TS. Bùi Sỹ Lợi, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XIV)
Nội dung cuốn sách:
Sách được biên soạn với các mục chương như sau:
- Tổng quan Bộ luật lao động năm 2019
Chương I: Những quy định chung
Chương II: Việc làm, tuyền dụng và quản lý lao động
Chương III: Hợp đồng lao động
Chương IV: Giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề
Chương V: Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể
Chương VI. Tiền lương
Chương VII. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Chương VIII. Kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất
Chương IX: An toàn, vệ sinh lao động
Chương X: Những quy định riêng đối với lao động nữ và bảo đảm bình đẳng giới
Chương XI: Những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số lao động khác
Chương XII. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Chương XIII. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
Chương XIV. Giải quyết tranh chấp lao động
Chương XV. Quản lý nhà nước về lao động
Chương XVI. Thanh tra lao động, xử lý vi phạm pháp luật về lao động
Chương XVII. Điều khoản thi hành.
Có thể thấy chương mục của cuốn sách cũng tương ứng với chương mục trong Bộ luật lao động năm 2019, các tác gải đã phân tích, bình luận từng điều luật của Bộ luật lao động năm 2019, cuốn sách đồng thời phản ánh quan điểm của các tác giả về những nội dung mới, những sửa đổi mang tính tích cực của Bộ luật đồng thời đề cập một số quan điểm còn có thể có ý kiến đa chiều để bạn đọc tiếp cận.
Cụ thể trích dẫn bình luận Điều 35 về Quyền đơn phương chấm dứt hpwpj đồng lao động của người lao động tại Bộ luật lao động năm 2019 trong cuốn sách để bạn đọc có thể tham khảo và hiểu cấu trúc cuốn sách hơn.
Trích điều luật:
Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Bình luận:
Quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động trong bộ luật lao động năm 2019 có nhiều nội dung mới so với bộ luật lao động cũ năm 2012.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 thì với bất cứ loại hợp đồng nào dù là xác định hay không xác định thời hạn thì người lao động đều có quyền đơn phương chấm dứt không cần lý do mà chỉ phải báo trước với một thời hạn nhất định tùy thuộc vào thời hạn hợp đồng (Ít nhất 45, 30 hoặc 03 ngày làm việc).
Trước đây, theo quy định của bộ luật lao động cũ năm 2012 thì chỉ có hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì người lao động mới có quyền chấm dứt không cần lý do. Cơ sở của việc quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do từ quyền tự do lựa chọn việc làm và vấn đề cấm cưỡng bức lao động. Theo đó, khi người lao động không muốn tiếp tục làm việc vì bất cứ lý do gì cho dù thời hạn hợp đồng lao động vẫn còn thì họ có quyền tự do chấm dứt hợp đồng, bởi phải tiếp tục làm việc là trái với ý chí, mong muốn tự nguyện của họ. Tuy nhiên điều này cũng không đồng nghĩa với sự cổ suý cho việc chấm dứt tùy tiện, bừa bãi, thiếu tính chuyên nghiệp của người lao động. Do đó, cùng với sự ghi nhận, tôn trọng quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động bằng pháp luật thì tự bản thân người lao động và qua các thiết chế xã hội pháp lý khác (Tổ chức đại diện người lao động, quan hệ lao động tập thể, giáo dục, tuyên truyền...) để người lao động có những hành vi xử sự đúng mực và sử dụng quyền này phù hợp với nguyện vọng của bản thân cũng như hài hòa với lợi ích của người sử dụng lao động.
Cũng cần lưu ý thời hạn báo trước đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù (ví dụ: hàng không dân dụng, dàn khoan dầu khí, vận tải biển...) thì thực hiện theo quy định của chính phủ.
Thường thời gian báo trước sẽ dài hơn so với quy định chung nói trên. Trước khi có quy định này trong bộ luật lao động năm 2019, đã có những xung đột về nhận thức với vấn đề thời gian báo trước của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Trong một số trường hợp (Chủ yếu do sự vi phạm của người sử dụng lao động) thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước cho người sử dụng lao động:
- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại điều 29 của bộ luật lao động.
Với căn cứ này, người lao động để đơn phương chấm dứt hợp đồng cần minh chứng về việc người sử dụng lao động đã không bố trí, phân công công việc cho mình hoặc địa điểm làm việc theo đúng như đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý điều khoản công việc có thể có nhiều công việc kiêm nhiệm khác nhau hoặc công việc có chuyên môn tương tự, điều khoản địa điểm làm việc cũng có thể bao gồm nhiều địa điểm khác nhau (Trụ sở chính, chi nhánh...). Chính vì vậy, cần lưu ý đánh giá đầy đủ, toàn diện cam kết về điều khoản địa điểm, công việc phải làm để minh chứng lý do chấm dứt là có cơ sở.
Trường hợp người lao động được người sử dụng lao động chuyển đi làm công việc khác so với hợp đồng vì nhu cầu sản xuất, kinh doanh, thiên tai, hỏa hoạn... (Điều 29) thì đây không được coi là lý do để người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản bốn điều 97 của bộ luật lao động.
Quan tâm hàng đầu của người lao động khi tham gia quan hệ lao động và thu nhập. Do đó, khi người sử dụng lao động không trả lương, trả không đầy đủ hoặc trả không đúng thời hạn đã thỏa thuận làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người lao động và gia đình họ thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Khái niệm tiền lương ở đây cần được hiểu là tổng thu nhập của người lao động, tức là bao gồm tiền lương ghi trong hợp đồng và các khoản bổ sung khác có thể không được ghi nhận trực tiếp trong hợp đồng lao động (Lương kinh doanh, lương chuyên cần, phụ cấp chức vụ, trách nhiệm...).
Do đó, có thể người sử dụng lao động vẫn trả đủ lương ghi trong hợp đồng nhưng thiếu các khoản thu nhập hợp pháp khác thì vẫn bị coi là trả không đủ lương. Cũng cần lưu ý, khi người lao động sử dụng căn cứ này để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động vẫn phải trả đủ số tiền lương còn thiếu của người lao động.
Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn và đã khắc phục vấn đề này thì người lao động không được sử dụng để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
- Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Đây là những hành vi bị cấm trong bộ luật lao động. Do đó, khi bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; Bị cưỡng bức lao động; bị quay rối tình dục thì người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ngay lập tức mà không cần báo trước.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản một điều 138 của bộ luật lao động.
Mang thai, sinh con là chức năng đặc thù của lao động nữ. Khi lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.
Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì phải thông báo cho người sử dụng lao động kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại điều 169 của bộ luật lao động, chưa trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Đây là quy định mới của bộ luật lao động năm 2019 so với bộ luật lao động năm cũ 2012. Theo đó, người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định (Nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi) thì có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần điều kiện đủ năm tham gia bảo hiểm xã hội.
Quy định nhằm tạo cơ hội cho người lao động căn cứ vào tình trạng sức khỏe, điều kiện, nguyện vọng... Sẽ lựa chọn quyết định có tiếp tục làm việc hay không. Đây cũng là một biểu hiện của quyền tự do lựa chọn việc làm cho người lao động.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản một điều 16 của bộ luật lao động làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Thông tin trong quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động là rất quan trọng với người lao động bởi nó ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn có tham gia quan hệ lao động hay không. Do đó, khi người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực, đồng nghĩa với việc lừa dối dẫn đến người lao động hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng hay có sự nhầm lẫn, quyết định không đúng nên không đạt được mục đích khi tham gia quan hệ lao động, vì vậy người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đây là quy định mới về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động. Trường hợp này, theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 thì người sử dụng lao động còn có thể phải bồi thường thiệt hại (Điều 131) nếu người lao động chứng minh được thiệt hại do sự cung cấp thông tin không trung thực của người sử dụng lao động.
4. Đánh giá người đọc
Với lối biên soạn dọc theo nội dung của Bộ luật lao động, cuốn sách thực sự giúp người đọc dễ dàng theo dõi và hiểu cơ bản những nội dung, cơ sở lý luận và những vấn đề thực tiễn xoay quanh điều luật điều chỉnh. Đối với người làm công tác tư vấn pháp luật, đây thực sự là cuốn sách hữu ích nên có trong tủ sách. Đối với người lao động, người sử dụng lao động cũng cần thiết trang bị cho mình cuốn sách này để chủ động tra cứu và hiểu điều luật một cách dễ dàng hơn để đảm bảo gìn giữ được mối quan hệ lao động và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mỗi bên.
5. Kết luận
Thông qua việc giới thiệu tổng quát và chia sẻ đánh giá người đọc, Luật Minh Khuê thấy rằng "Bình luận khoa học Bộ luật lao động năm 2019" là cuốn sách hữu ích và những bạn đọc quan tâm tìm hiểu pháp lý về lao động thật sự cần trang bị cho mình cuốn sách này. Chúc bạn đọc có trải nghiệm thú vị với cuốn sách!
Nếu thấy những chia sẻ của chúng tôi là hữu ích, bạn đọc hãy lan tỏa nó tới với nhiều người hơn nhé!