1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Bình luận một số quy trong bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng" do Công chứng viên Tuấn Đạo Thanh biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Bình luận một số quy trong bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng (CCV.Tuấn Đạo Thanh)

Bình luận một số quy trong bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng

Tác giả: CCV.Tuấn Đạo Thanh

Nhà xuát bản tư pháp

3. Tổng quan nội dung sách

Có thể khẳng định rằng Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật dân sự của nước ta. Ngoài việc tiếp thu, hoàn thiện các quy định đã có từ Bộ luật Dân sự năm 1995 và sau này là Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Bộ luật Dân sự năm 2015 các nhà làm luật đã đưa ra rất nhiều quy định mới, xa lạ với tư duy pháp lý truyền thống. Dưới nhãn quan công chứng viên, chúng tôi cho rằng một số quy định lần đầu tiên hiện diện cũng như tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2015 có ảnh hưởng, tác động lớn đến hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ công chứng viên. Trong khuôn khổ cuốn sách nhỏ này, tác giả xin lựa chọn và đưa ra một số bình luận xoay quanh những quy định tiêu biểu như đã đề cập ở trên. 

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương I. Một số vấn đề pháp lý xoay quanh chủ thể là cá nhân

1.1. Giám hộ và đại diện đối với cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và hạn chế năng lực hành vi dân sự

1.2. Người vắng mặt tại nơi cư trú, người bị tuyên bố mất tích và người bị tuyên bố đã chết

1.3. Đăng ký hộ tịch

Chương II. Chủ thể hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

2.1. Hộ gia đình, tổ hợp tác

2.2. Các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

Chương III. Ủy quyền với tư các là một hình thức đại diện

Chương IV. Quyền khác đối với tài sản

4.1. Quyền đối với bất động sản liền kề

4.2. Quyền hưởng dụng

4.3. Quyền bề mặt

Chương V. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ 

5.1. Một số vấn đề có liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

5.2. Những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cụ thể

Chương VI. Bàn về chế định thừa kế

6.1. Quyền thừa kế

6.2. Di chúc

6.3. Thời hạn, thời hiệu và một số vấn đề có liên quan

6.4. Niêm yết

6.5. Cách thức phân chia di sản

Dưới đây là trích đoạn nội dung tác giả trình bày trong cuốn sách tại Chương I để bạn đọc tham khảo:

".......

Dẫu vậy, suy cho cùng, cá nhân mới là chủ thể tích cực, duy nhất trực tiếp tham gia xác lập, sau khi giao dịch dân sự nói chung hay các văn bản công chứng nói riêng. Chính vì vậy, công chứng viên không thể bỏ qua những quy định của pháp luật dân sự có liên quan đến nhóm chủ thể quan hệ dân sự vô cùng quan trọng này. Các nhà làm luật đã dành toàn văn chương III Phần thứ nhất, Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm 58 điều luật, từ điều 16 đến điều 73 để quy định về "cá nhân', trong đó đề cập đến các khía cạnh sau: "Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của cá nhân" (Xem mục 1, từ điều 16 đến điều 24); "quyền nhân thân" (xem mục 2, từ điều 25 đến điều 39); "nơi cư trú" (xem mục 3, điều 40 đến điều 45); "giám hộ" (xem mục 4,  từ điều 46 đến điều 63) và "thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, tuyên bố mất tích, tuyên bố chết" (xem mục năm từ điều 64 đến điều 73).
Thuận lẽ tự nhiên, con người sẽ được sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già cả rồi chết đi theo quy luật sinh lão bệnh tử. Khi còn nhỏ, từng cá nhân này sẽ được cha mẹ bao bọc, che chở, bảo hộ trong các mối quan hệ tương tác với môi trường xung quanh. Đến lúc trưởng thành, những công việc này sẽ do mỗi cá nhân tự đảm nhiệm. Và tất nhiên, khi về già, trong các tình huống đã được pháp luật xử liệu, một cá nhân cụ thể sẽ xác lập, thực hiện giao dịch thông qua người đại diện. Bên cạnh đó, pháp luật dân sự cũng đã thiết kế cơ chế nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong những tình huống bất khả kháng như: hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự, vắng mặt tại nơi cư trú, mất tích. Chấm. Sau đây, dưới nhãn quan của công chứng viên, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số quy định của pháp luật thực định có liên quan đến cá nhân, chủ thể quan trọng bậc nhất trong quan hệ dân sự. Cụ thể như sau:
Khi đề cập đến năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2015 nêu rõ: "1.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. 2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. 3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết". Trong khi "1. Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản. 2.  Quyền sở hữu, quyền thừa kế và quyền khác đối với tài sản. 3. Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó" là quy định tại Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2015 nói tới nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
Tuy nhiên, để có thể vận dụng, triển khai năng lực pháp luật dân sự của mình trong thực tế cuộc sống, bản thân cá nhân đó còn phải có năng lực hành vi dân sự. Có thể nói, độ tuổi chính là thước đo, công cụ để công chứng viên xác định năng lực hành vi dân sự hay còn gọi là khả năng tự mình giao kết, xác lập giao dịch của một cá nhân.
Liên quan đến vấn đề này tại Điều 20 Bộ luật dân sự 2015 quy định về người thanh niên như sau: "1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên. 2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này." Trong khi đó, Điều 22 nói về mất năng lực hành vi dân sự; Điều 23 đề cập đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi còn hạn chế năng lực hành vi dân sự là nội dung tại Điều 24. Như vậy, dường như về mặt nguyên tắc, người từ đủ 18 tuổi trở lên, phát triển một cách bình thường sẽ có quyền tự mình tham gia xác lập, giao kết tất cả các loại giao dịch. Tuy nhiên, quy định có tính nguyên tắc kể trên cũng có ngoại lệ. Cụ thể, Điều tám luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ấn định điều kiện kết hôn như sau: 
"1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính."

Như vậy, trong trường hợp người nam giao kết thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng (xem Điều 47 luật hôn nhân và gia đình năm 2014), khi người chồng xác lập văn bản chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (xem Điều 38 luật hôn nhân và gia đình năm 2014), văn bản chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (xem Điều 41 luật hôn nhân và gia đình năm 2014), văn bản nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung (xem Điều 46 luật hôn nhân và gia đình năm 2014), anh ta phải là người từ đủ 20 tuổi trở lên.
Còn sau đây là cách thức xác lập, giao kết giao dịch của người chưa thành niên được ghi nhận tại Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó: 
"1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.

2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.

3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.

4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý."

Từ nội dung điều luật vừa trích dẫn kể trên, chúng tôi thấy các nhà làm luật đưa ra ba dự liệu:
- Đối với người chưa đủ sáu tuổi: mọi giao dịch của người dưới sáu tuổi đều được xác lập, thực hiện bởi người đại diện theo pháp luật của người đó. Điều đó có nghĩa dường như công chứng viên hoàn toàn không cần phải quan tâm tới vị trí của người dưới sáu tuổi khi cá nhân này xác lập, thực hiện giao dịch thông qua người đại diện theo pháp luật. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung điểm a khoản 2 Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015, có vẻ như người chưa đủ sáu tuổi cũng được phép giao kết những giao dịch dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày của bản thân.
- Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi:  Theo ngữ cảnh của luật tiếp, người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự nếu như người đại diện theo pháp luật đồng ý. Như vậy, người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi sẽ là người trực tiếp ký kết cũng như thực hiện giao dịch. Lúc này, người đại diện sẽ chỉ ký vào văn bản công chứng nhầm thể hiện sự đồng ý của mình đối với giao dịch đó mà thôi. Yêu cầu kể trên không áp dụng đối với các giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi của người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi.
- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: dường như nhóm người này đã có thể giao kết tất cả các loại giao dịch, trừ giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch khác phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý. Về vấn đề này, chúng ta có thể xem thêm nội dung tại khoản 2 Điều 77 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, trong tình huống do luật định, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi sẽ tự giao kết, thực hiện giao dịch. Trường hợp cần thiết, người đại diện sẽ cùng ký vào giao dịch đó nhằm biểu đạt sự đồng ý của mình.
Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu nội dung một số điều luật khác có liên quan, chúng tôi thấy cách thức quy định kể trên có những điểm khác biệt. Khi đề cập đến đại diện, Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định: 

"1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Cá nhân, pháp nhân có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Cá nhân không được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó.

3. Trường hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện."

Như vậy, ở điều luật đưa ra khái niệm đại diện, bao gồm cả đại diện theo pháp luật, dường như người đại diện lại có thẩm quyền xác lập và thực hiện giao dịch dân sự thay cho người được đại diện. Từ nội dung của điều luật viết, rõ ràng lúc này người từ chưa đủ mười lăm tuổi trở xuống sẽ phải xác lập, thực hiện giao dịch hoàn toàn thông qua người đại diện. Điều này có nghĩa cá nhân người từ chưa đủ mười lăm tuổi trở xuống sẽ không cần phải biểu đạt ý crí của mình một cách trực tiếp, trực diện trong nội dung giao dịch. Bên cạnh đó, ở chiều ngược lại, chúng tôi thấy trong một số trường hợp pháp luật đã dữ liệu, nhận được sự đồng ý của cá nhân từ chưa đủ mười lăm tuổi trở xuống lại là yêu cầu tiên quyết để giao dịch đó trở nên hợp pháp. Điều này có nghĩa công chứng viên nói riêng hay cá nhân có thẩm quyền nói chung phải xác định chính xác và tham khảo ý kiến của người chưa đủ mười lăm tuổi trong một số trường hợp pháp luật đã liệt kê. Để minh chứng, chúng tôi xin trích dẫn nội dung một số điều luật:
....."

4. Đánh giá bạn đọc

Tác giả đã chắt lọc những quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 có tác động điển hình nhất đến hoạt động công chứng để phân tích và bình giải một cách logic và từ đó đưa ra lưu ý đối với hoạt động hành nghề của công chứng viên.

Tuy nội dung trình bày ngắn gọn, song lời văn diễn đạt rành mạch, rõ ý, có sự minh chứng rõ ràng điều này sẽ giúp người đọc hiểu rõ và hiểu sâu vấn đề hơn.

Cuốn sách "Bình luận một số quy trong bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng" là một tài liệu tham khảo hữu ích không chỉ đối với người hành nghề công chứng viên, người đang theo đào tạo ngành luật có định hướng chọn nghề công chứng viên mà còn dành cho những người làm công tác pháp luật nói chung phục vụ trong công tác thực tiễn.

5. Kết luận

Cuốn sách "Bình luận một số quy trong bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan trực tiếp đến hoạt động công chứng" nhận được nhiều đánh giá tích cực từ bạn đọc. Nội dung tác giả trao đổi trong cuốn sách có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé!