về sự xuất hiện cũng như các giai đoạn hình thành, phát triển của lĩnh vực công chứng tại Việt Nam.

1. Giai đoạn Pháp thuộc đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Hoạt động công chứng có lẽ chính thức xuất hiện tại Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Trong giai đoạn này, hoạt động công chủ yếu áp dụng theo mô hình của Pháp chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu là Sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies). Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời. Quy chế công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm (cụ thể do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời). Công chứng viên hoạt động với tư cách là người thi hành công vụ, hoạt động mang tính chất của người hành nghề tự do. Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng tại Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, Nam Định thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm.

2. Từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1954

Ngay sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên Deroche tại văn phòng công chứng, bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ đang là luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thời kỳ này, công chứng viên phải chịu trách nhiệm và chịu sự kiểm tra, giám sát của các Ủy ban hành chính các cấp.

Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ với nội dung trình tự thủ tục thị thực giấy tờ cho công dân trong giao lưu dân sự như mua bán, trao đổi, chứng nhận địa chỉ cụ thể của một người tại địa phương. Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu là xác nhận ngày, tháng, năm chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự.

Ngày 29 tháng 2 năm 1952 Bác ký thêm Sắc lệnh 85 quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất. Do hoàn cảnh lịch sử bây giờ nên Sắc lệnh 85 chỉ áp dụng đối với những vùng tự do hoặc những vùng thuộc Ủy ban kháng chiến. Cũng theo Sắc lệnh này, Ủy ban kháng chiến cấp xã hoặc xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất và nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất đem bán trao đổi. Có thể thấy rằng hoạt động công chứng trong giai đoạn này không được phát triển do rất nhiều nguyên nhân, cụ thể:

Một là do hoàn cảnh đất nước đang trong giai đoạn chiến tranh khó khăn, thiếu thốn nhiều mặt đặc biệt là nền kinh tế nước nhà giai đoạn này rất kém phát triển.

Hai là do Nhà nước ta lúc này không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh và tập thế, trong khi đó hoạt động công chứng lại chủ yếu chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân; mọi giao lưu kinh tế, dân sự chủ yếu được xác lập theo quan hệ hành chính, thương mại gần như không phát triển. Do vậy, nên các tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này.

3. Giai đoạn từ năm 1954 đến trước năm 1991

>> Xem thêm:  Công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất tại nơi có hộ khẩu được không ?

Giai đoạn từ năm 1954 đến 1981 có rất ít quy phạm điều chỉnh hoạt động công chứng, chứng thực. Đến năm 1981 có Nghị định 143 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp. Trên cơ sở của Nghị định 143, năm 1987 có Thông tư 574/QLTP quy định về công tác công chứng nhà nước được ban hành cùng với nó là sự ra đời của phòng công chứng TP. Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở địa bàn khác, công tác công chứng, chứng thực của Ủy ban nhân dân cũng được kiện toàn. Sau đó, để tạo điều kiện hơn nữa cho các địa phương tiếp cận với hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng, tại thời điểm này chủ thể duy nhất thực hiện công chứng là phòng công chứng. Căn cứ vào những văn bản này thì các tỉnh thành trên cả nước đã lập ra các phòng công chứng dần hình thành mạng lưới các phòng công chứng trên cả nước.

Tại Miền Nam Việt Nam sau hiệp định Giownevơ 1954, công chứng dưới thwofi Ngụy – Sài Gòn được điều chỉnh bởi Dụ 43 ngày 29/11/1954 quy định về ngạch Chưởng khế (ngạch chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng. Mục đích là thiết lập trong mỗi quản hạt của mỗi Tòa sơ thảm thuộc Bộ Tư pháp một phòng công chứng, nhưng trên thực tế chỉ thiết lập được một phòng công chứng hoạt động tại Sài Gòn và tồn tại đến năm 1975.

4. Giai đoạn từ năm 1991 đến trước ngày 01/07/2007

Kể từ sau Đại hội Đảng VI năm 1986 nước ta đã có những chuyển biến to lớn sang thời kỳ mở cửa và hội nhập. Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân thời kỳ này và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước. Theo quy định của Nghị định này thì “Phòng công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở ngân hàng, có con dấu mang hình quốc huy”

Tiếp đó, Chính phủ ban hành nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của công chứng Nhà nước vào ngày 18/5/1996 thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT, theo đó Phòng công chứng thuộc sở tư pháp, quy định này nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tải cho Ủy ban nhân dân.

Sau một thời gian, do tình hình kinh tế nước ta ngày càng phát triển, kéo theo sự gia tăng của các quan hệ kinh tế, thương mại khiến cho các quy định của Nghị định 31/CP đã trở nên lạc hậu. Ngày 08/02/2000 Chính phủ ban hành Nghị định 75/NĐ-CP về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi của công chứng, chứng thực; tổ chức phòng công chứng, chứng thực; nguyên tắc hoạt động, trình tự, thủ tục của việc công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện, thị xã thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn. Bằng hoạt động công chứng, chứng thực của mình, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực thi công tác công chứng, chứng thực đã góp phần cho việc bảo đảm an toàn pháp lý trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và các quan hệ xã hội khác, phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa . Cũng từ Nghị định này, thuật ngữ “Phòng công chứng Nhà nước” đã được thay thế bằng “ Phòng công chứng” thể hiện quan điểm xã hội và hoạt động công chứng của Nhà nước ta.

Đây là nghị định có nhiều điểm mới so với các văn bản trước đây như khái niệm công chứng, chứng thực được phân biệt rạch ròi; phạm vi công chứng, chứng thực được quy định rộng hơn; trình tự thủ tục được quy định rõ rang cụ thể;…Về tính chất hành vi công chứng, chứng thực là một hoạt động bổ trợ tư pháp, là một loại dịch vụ công nhằm xác định tính chân thực và đúng pháp luật của các bản sao của các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý và các giao dịch dân sự. Theo quy định tại Nghị định 75/2000 các cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực bao gồm: các phòng công chứng Nhà nước, UBND cấp huyện, UBND cấp xã, Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, cơ quan tổ chức cấp bản gốc các loại hồ sơ, giấy tờ mang tính pháp lý cũng có quyền chứng thực bản sao. Mặc dù nhiều cơ quan công chứng, chứng thực như trên nhưng trong thực tế, đa số người dân có nhu cầu công chứng, chứng thực thường đổ dồn về các phòng công chứng Nhà nước gây ra tình trạng quá tải. Hậu quả tất yếu là một số nơi xảy ra tình trạng nhũng nhiễu, nạn cò mồi và hiên tượng gian lận.

5. Giai đoạn từ ngày 01/07/2007 ngày Luật công chứng 2006 có hiệu lực đến nay

Do những nhu cầu về công chứng của nhân dân ngày càng cao khiến cho mối quan hệ trong hoạt động công chứng ngày càng phức tạp nên Luật công chứng đã được Quốc hội thông qua vào ngày 29/11/2006, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cũng được triển khai, từ đây hai hoạt động công chứng, chứng thực được phân biệt rõ ràng, cụ thể.

Luật công chứng 2006 là luật đầu tiên quy định về hoạt động công chứng ở nước ta, gồm 8 chương 67 điều với các nội dung về công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng, thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch; lưu trữ hồ sơ, phí công chứng, thù lao công chứng, xử lý vi phạm, khiếu nại, giải quyết tranh chấp.

>> Xem thêm:  Giá trị thời hạn của văn bản công chứng, chứng thực là bao lâu ?

Điểm mới của luật công chứng 2006 so với các nghị định trước đây:

-Thứ nhất, luật chỉ quy định các vấn đề công chứng, không quy định đến các vấn đề liên quan đến chứng thực. Việc tách biệt công chứng với chứng thực như vậy vừa đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính, vừa tạo điều kiện để chuyển tổ chức công chứng sang chế độ dịch vụ công.

-Thứ hai, có các quy định về các tổ chức hành nghề công chứng và chế định công chứng viên. Theo đó công chứng viên không nhất thiết là công chứng Nhà nước. Trên thực tế, khi triển khai luật công chứng thì sẽ tồn tại hai loại công chứng viên: công chứng viên làm việc trong các phòng công chứng Nhà nước và công chứng viên làm việc tại các văn phòng công chứng do các công chứng viên tự thành lập theo Luật doanh nghiệp tổ chức dưới hình thức công ty hợp danh. Mô hình văn phòng công chứng là một hình thức mới của tổ chức hành nghề công chứng. Những quy định về tổ chức hành nghề công chứng thể hiện rõ nét tinh thần đổi mới các tổ chức hành nghề công chứng theo hướng xã hội hóa và dịch vụ. Về lâu dài, hình thức văn phòng công chứng sẽ phổ biến, nhất là khi nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển.

-Thứ ba, kể từ thời điểm có hiệu lực của Luật công chứng việc chứng thực của các tổ chức, cá nhân cũng có sự thay đổi căn bản cụ thể là: các hợp đồng, giao dịch kinh tế, dân sự, thương mại… sẽ được chứng thực tại phòng công chứng; các bản soa từ bản chính các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng nước ngoài và chứng thực chữ ký của người dịch trong các bản dịch sẽ được chứng thực tại Phòng tư pháp cấp huyện. Các loại giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt như: giấy khai sinh, học bạ, … sẽ được chứng thực tại UBND cấp xã, phường.

Với việc tách bạch phạm vi giữa công chứng và chứng thực để từ đó xác định nguyên tắc tổ chức và hoạt động phù hợp đối với mỗi loại hoạt động này là phù hợp với chủ trương cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Do đó việc Chính phủ ban hành Nghị định 73/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 về cấp bản sao từ bản gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký (sau đây gọi tắt là nghị định 79/2007/NĐ-CP) là cần thiết, kịp thời đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Chính phủ đã ban hành nghị định 04/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 về thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký của Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ. Theo Nghị định , ngoài chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản có tiếng nước ngoài thì Phòng tư pháp cấp huyện có them thẩm quyền chứng thực chữ ký của người dịch trong các giấy tờ, văn bản song ngữ.

Mới đây nhất Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật sau đánh dấu mốc cho việc ngày càng hoàn thiện hơn các quy định pháp luật trong lĩnh vực công chứng. Cụ thể có một số văn bản chính sau:

Luật Công chứng năm 2014 có hiệu lực ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật Công chứng năm 2006;

Nghị định 29/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Công chứng có hiệu lực ngày 01/05/2015;

Thông tư 01/2021/TT-BTP hướng dẫn Luật Công chứng do Bộ Tư pháp ban hành có hiệu lực ngày 26/03/2021;

>> Xem thêm:  Dịch vụ công chứng, tư vấn luật đất đai uy tín, chuyên nghiệp

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật có liên quan đến quy hoạch 2018 có hiệu lực ngày 15/07/2018 sửa đổi, bổ sung một số luật liên quan trong đó có Luật Công chứng năm 2014;

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP Quy định về Cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí và chứng thực hợp đồng giao dịch có hiệu lực ngày 10/04/2015;

Thông tư 01/2020/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch do Bộ Tư pháp ban hành có hiệu lực ngày 20/04/2020.

Ngoài ra còn các thông tư, nghị định hướng dẫn các lĩnh vực liên quan đến công chứng được ban hành để hoàn thiện hơn các quy định về công chứng.

Nguồn: Sưu tầm và biên tập

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Công chứng là gì ? Ai là người được thực hiện việc công chứng theo quy định pháp luật ?

Trả lời:

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng năm 2014, Công chứng "là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng."

Theo khái niệm về công chứng nêu trên, người được thực hiện việc công chứng là công chứng viên - người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Công chứng, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thưa luật sư, Công chứng với chứng thực có phải là một không ?

Trả lời:

Trả lời:

Từ khái niệm công chứng nêu tại Điều 2 Luật công chứng, ta có thể rút ra một số đặc điểm của công chứng như sau:

- Chủ thể thực hiện: Công chứng viên có đủ tiêu chuẩn và điều kiện luật định, do Bộ trưởng BTP bổ nhiệm;

- Phạm vi công chứng: chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.

Còn khái niệm chứng thực, tuy hiện nay pháp luật không có quy định thế nào là chứng thực. Tuy nhiên, từ các quy định tại nghị định số 23/2015/NĐ-CP 

- Chủ thể: Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền - Phòng Tư pháp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và Cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài; Công chứng viên; 

- Phạm vi chứng thực: chứng thực bản sao là đúng với bản chính; chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực; chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; 

Về cơ bản đây là hai thủ tục khác nhau, điểm giống nhau giữa chúng là trong một số công việc, công chứng viên cũng là chủ thể có quyền thực hiện việc chứng thực nên điều này dễ gây nhầm lẫn hai thủ tục này với nhau.

Trân trọng!

Câu hỏi: Thưa Luật sư, Công chứng có phải là thủ tục bắt buộc không ?

Trả lời:

Trả lời:

Công chứng không phải là thủ tục bắt buộc mọi cá nhân, tổ chức trong mọi giao dịch đều phải tuân theo. Việc công chứng được thực hiện theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, trong một số thủ tục và giao dịch (như chuyển nhượng bất động sản, di chúc,...), việc công chứng lại là một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Nên về cơ bản, các bên phải tuân theo tiêu chí đó. Việc công chứng để đảm bảo tính hình thức luật định của hợp đồng, giao dịch và bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Trân trọng!