1. Khái quát chung về hoạt động công chứng

Nguồn gốc của hoạt động công chứng được tìm thấy trong văn hóa La mã cổ đại, xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 2 và thế kỷ thứ 3 sau công nguyên. Công chứng viên, trong luật  La Mã đó là  người với vai trò  ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của Tòa án, hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu và làm chứng. Theo đó, xét về nguồn gốc, công chứng là nghề sớm xuất hiện trong lịch sử  loài  người với vai trò  ghi  chép,  soạn thảo văn bản và làm chứng.

 

2. Hệ thống lịch sử công chứng trên thế giới

2.1 Thời kỳ trung cổ đến thời kỳ phục hưng

Pháp luật dân sự đã trải qua thời kỳ trung cổ đến thời kỳ phục hưng từ thế kỷ 12 trở đi, thời kỳ này, công chứng phát triển thành tổ chức nghề  luật ở hầu hết các nước Châu Âu và Châu Mỹ. Theo Pierre-Francois Real, một trong những nhà biên soạn Luật Ventôse năm 1804 làm cơ  sở  cho  việc  thiết  lập nghề công chứng ở nhiều quốc gia khác ngoài Cộng hòa Pháp như Bỉ, Đức, Áchentina, Áo và Thụy sĩ thì:
Những người tư vấn cho các bên đương sự một cách vô tư, giúp họ hiểu được phạm vị nghĩa vụ hợp đồng mà họ đã giao kết, soạn thảo các hợp đồng này một cách rõ ràng, làm chứng cho  chúng có tính xác thực và có giá trị như  một phán quyết chung thẩm, đóng vai trò bộ nhớ của đương sự và lưu giữ tuyệt đối hồ sơ của họ, hạn  chế tranh chấp có thể nảy sinh giữa các bên một cách ngay tình: những người làm công việc như vậy chính là công chứng viên.
Nghiên cứu các tài liệu về lịch sử công chứng cho thấy, trên thế giới có ba hệ thống hệ thống công chứng, đó là  hệ  thống công chứng dân luật (hay  còn gọi là công chứng latinh), hệ thống  công chứng thông luật (hay còn gọi là hệ thống công chứng Anglo - Saxon) và hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể) - hệ thống công chứng  mà  ở  đó công chứng được coi như một hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước.
 

2.2 Hệ thống công chứng Latinh

Hệ thống công chứng Latinh: (chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống luật La mã, còn gọi là hệ thống pháp luật dân sự - Civil Law). Hệ thống này tồn tại ở hầu hết các nước thuộc cộng đồng châu Âu (trừ Đan Mạch và Anh); Châu Phi (các nước thuộc địa cũ của Pháp); các nước châu Mỹ - La tinh, bang Quebec của Canada, một số nước châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…).
Tại các nước trong hệ thống công chứng Latinh,  nhà  nước  thừa nhận  thể chế công chứng chuyên nghiệp, đề ra các quy định pháp lý để tổ chức và quản lý thiết chế công chứng một cách chặt chẽ. Phạm vi hoạt động của công chứng thường bao gồm các hợp đồng, giao  dịch về bất động sản, thừa kế và  các thỏa thuận về tài sản trong hôn nhân gia đình.
Ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng Latinh), Điều 1 Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều  lệ  công chứng của  Cộng hòa Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức  công,  được  bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các  cơ quan công quyền và  để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng". (Điều 1) Điều lệ công chứng  được  ban  hành  kèm  theo Lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của Cộng hòa Bê-nanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên).
Nhìn chung các  nước  thuộc  hệ thống Latinh  đều quy định công chứng là hoạt động của cơ quan công chứng xác nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hành vi pháp lý dân sự, sự kiện pháp lý và các  văn bản pháp  lý  theo các trình tự quy định của pháp luật.
 

2.3 Hệ thống công chứng Anglo-Sacxon (còn được gọi là hệ thống pháp luật công chứng hình thức)

Gắn liền với hệ thống pháp  luật  Common Law,  tồn tại ở các quốc gia: Vương quốc Anh, Mỹ (trừ bang Luisane), Canada (trừ bang Quebec), Singapore, Thái Lan, Đài Loan… Đặc điểm nổi bật của hệ  thống này là việc công chứng chỉ mang tính hình thức, chú trọng đến tính xác thực về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách hàng, xác  định  đúng thời  gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi nhận  sự  kiện  pháp  lý  mà  không cần quan tâm đến tình trạng pháp lý của đối tượng.
Ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công  chứng Anglo - Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác  lập  chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác  lập giấy tờ khác có liên quan đến việc  chuyển nhượng bất động sản  và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên  quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng  hải về sự cố xảy ra đối với  tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển.
 

2.4 Hệ thống công chứng Collectiviste (công chứng tập thể)

Tồn tại ở các nước XHCN trước đây và phát triển mạnh vào các năm 70 của thế kỷ XX đến trước năm 1990, bao gồm: Liên Xô, Ba Lan, Đông Đức, Bungari, Hungari, Rumani, Cu Ba, Trung Quốc, Việt nam lại có quan niệm về công chứng khác với hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo  - Saxon. Ở hệ thống công chứng Collectiviste, công chứng viên là công chức nhà nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính;  việc  công chứng được giao cho cả các chủ thể không phải là công chứng viên  đảm  nhiệm;  công chứng viên không có chứng chỉ  hành nghề,  không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính trước Nhà nước về những sai phạm trong hoạt động của mình.
Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống  công chứng Collectiviste, hầu  hết các nước đã chuyển đổi xác định công chứng là một nghề tự do đặt dưới sự quản lý của Nhà nước và đang từng bước  tiến  hành  cải cách công chứng từ mô hình công chứng nhà nước sang mô hình công chứng tư. Ví dụ: ở Ba Lan, Điều 1 Luật số 176 ngày 14/02/1991 về công chứng  quy định: "Công chứng viên được bổ nhiệm để lập những văn bản mà trong đó, các bên phải hoặc  muốn đem lại một tính đích thực".
Mặc dù hình thành ba hệ thống công chứng như trên,  song chung quy  lại, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công  chứng tự do (ở hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo-Sacxon) và mô hình công chứng nhà nước (chỉ tồn tại ở hệ thống công chứng Collectiviste).
Ở mô hình công chứng nhà nước, cơ quan công chứng là thiết chế nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, do nhà nước bổ nhiệm, với sự bao cấp toàn bộ của nhà nước, mô hình công chứng nhà nước chỉ phù hợp với cơ chế kế hoạch hóa tập trung và nền kinh tế hiện vật, trong đó, các  giao  lưu dân sự, kinh tế, thương mại không phát triển,  ở  đó, vai trò  công chứng chủ  yếu là nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và tài sản cá nhân.
Ở mô hình công chứng tự do, các công chứng viên được Nhà nước bổ nhiệm, hành nghề tự do theo quy định của pháp luật đối với các hình thức văn phòng công chứng tư nhân hoặc văn phòng công chứng tập thể,  tự chủ trong  tổ chức, hoạt động, tự hạch toán và đóng thuế cho nhà nước.
Tóm lại, có thể thấy rõ ưu thế vượt trội của mô  hình công chứng tự do so với mô hình công chứng nhà nước. Đó là  sự đề cao, phát huy trách nhiệm  cá nhân của công chứng viên, tạo ra  cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo  động  lực để các công chứng viên phát huy tính tích cực, chủ động nhiệt tình trong hoạt động của mình, giảm nhẹ sự bao cấp của nhà nước. Về mặt tổ chức và hoạt động, mô hình công chứng tự do tạo ra sự linh hoạt về mặt tổ chức bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu công chứng của nhân dân. Về vai trò, mô hình công chứng tự do có hai chức năng chính. Thứ nhất, là để ngăn chặn các tranh chấp pháp lý: việc chuẩn bị các văn bản công chứng mang lại bằng chứng rõ ràng liên quan đến các quyền lợi hợp pháp và giúp  ngăn chặn tranh chấp pháp  lý. Thứ hai, là để giải quyết các tranh chấp pháp  lý: các  văn bản công chứng đáp ứng được những yêu cầu nhất định sẽ cấu thành văn bản quy phạm có hiệu lực thi hành hoặc là cơ sở để một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khi một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình.
 

3. Lịch sử công chứng ở Việt Nam

Ở Việt Nam hoạt động công chứng xuất hiện  từ những năm 80 của thế  kỷ XIX, hoạt động công chứng của nước ta ở giai đoạn này đều áp dụng theo mô hình của Pháp,  một  hợp  đồng giữa hai bên là người Việt Nam có thể làm dưới hình thức: (i) Do  hai bên đương sự thỏa thuận  và ký (được  gọi là tư chứng thư); (ii) Do chính quyền thị thực tức là do trưởng phố ở các thành thị và lý trưởng ở nông thôn thị thực hoặc do  Công chứng viên  lập  (công chứng thư).
Cách mạng Tháng 8 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cùng với việc  xây dựng bộ máy nhà nước kiểu  mới,  ngày  01/10/1945 chính quyền cách mạng đã quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng. Hệ thống công chứng nhà nước của Việt  Nam  được hình thành trên cơ sở Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng nhà nước và Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện các  việc  công chứng; Quyết định số 90/HĐBT ngày 19/07/1989 của Hội đồng  Bộ  trưởng  về  con dấu của phòng công chứng nhà nước. Tính đến thời điểm 27/02/1991 thời  điểm ban hành Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, trên cả nước đã thí điểm thành lập 29 phòng công chứng nhà nước ở 29 tỉnh, thành phố.
Theo Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp, công chứng nhà nước được xác định: Là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp các công dân, cơ quan, tổ chức lập  và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Bằng hoạt động trên, công chứng nhà nước tạo ra những bảo đảm pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các cơ quan, tổ chức phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn ngừa vi phạm pháp luật, giúp cho việc giải  quyết tranh chấp  được  thuận lợi, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Lần đầu tiên kể từ khi thành lập  nước (02/9/1945),  khái  niệm  công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi.
Cùng với quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước  ta  chủ trương xóa bỏ triệt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển  sang  cơ  chế  kinh  tế  thị trường. Trong vòng 10 năm  (1991-2000),  Chính phủ  đã ban hành  ba nghị  định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số  31/CP  ngày  18/5/1996  của  Chính phủ về  tổ  chức và hoạt động công chứng nhà  nước  (sau đây gọi tắt  là  Nghị định số 31/CP)  và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, thuật ngữ  công  chứng  được  xác  định như sau: Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng được xác định: Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Chỉ đến Nghị định số 75/20000/NĐ-CP, khái niệm công chứng ở  Nghị định này đã được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm  chung của thế giới về công chứng. Theo Nghị định này:
Công chứng là việc phòng công chứng chứng  nhận  tính xác  thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế,  thương  mại và quan hệ xã hội khác  (sau  đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này.
Hiện này, tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt  Nam đang chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Công chứng số 53/2014/QH13 được được Quốc Hội thông qua ngày 20/06/2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2915. Theo Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014 quy định: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ  chức  hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ  tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo  quy định của pháp luật  phải công chứng hoặc cá nhân, tổ  chức  tự  nguyện yêu cầu công chứng.
Qua phân tích về khái niệm công chứng của nước ta qua các thời kỳ có thể thấy cách thể hiện khái niệm có sự khác nhau, nhưng  tất  cả có sự giống nhau cơ bản là xác định công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của hợp đồng, giao dịch và nhằm bảo đảm cho hợp đồng, giao dịch được giao kết hoặc xác lập không vi phạm pháp luật,  không trái đạo đức xã hội. Nó  cũng thể hiện rõ việc công chứng tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch (công chứng nội dung) đã được xác lập ở Việt Nam ngay từ khi được  hình thành và được kế thừa trong nhiều văn bản pháp luật quy định về tổ chức và  hoạt động công chứng.
Việc xác định mô hình công chứng theo hướng nêu trên xuất phát từ việc nước ta là một nước có hệ thống luật thành văn, hơn nữa thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy công chứng tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đã phát huy một ưu điểm quan trọng đó là bảo đảm tính chặt chẽ, an toàn về mặt pháp lý của hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật nhất là trong điều kiện hệ thống pháp luật nước ta còn chưa đồng bộ, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn chưa cao, đồng thời đây cũng là xu hướng chung của công chứng thế giới hiện nay. Chính vì vậy, thực hiện chủ trương được xác định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đó là “hoàn thiện chế định công chứng. Xác định rõ phạm vi của công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để xã hội hóa công việc này”. Với việc cách xác định nội hàm của thuật ngữ “công chứng” trong Luật Công chứng 2014, hoạt động công chứng ở Việt Nam dần trở về đúng bản chất là một hoạt động dịch vụ công, đồng thời là một nghề do công chứng viên thực hiện, nhằm mang lại tính xác thực cho các hợp đồng, giao dịch qua đó bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên giao kết, phòng ngừa tranh chấp, vi phạm pháp luật. Xét dưới góc độ hội nhập thì khái niệm này cơ bản phù hợp với quan niệm về công chứng theo hệ thống Latinh và cùng với đó, cơ chế quản lý công chứng cũng được xác định một cách cụ thể hơn cho phù hợp với tình hình mới.
Như vậy bản chất hoạt động công chứng là loại hoạt động mang  tính chất dịch vụ công. Bằng hành vi công chứng của mình, công chứng viên đã cung cấp một dịch vụ về an toàn pháp lý theo yêu cầu của cá nhân,  tổ chức  bảo đảm tính hợp pháp và an toàn về mặt pháp lý cho  các  giao  dịch, hợp đồng, phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra về sau giữa các bên. Điểm đặc biệt trong dịch vụ mà Công chứng viên cung cấp cho các bên là dịch vụ mang yếu tố quyền lực nhà nước, có quyền nhân danh nhà nước để chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch, như vậy nhà nước đã gắn cho văn bản công chứng một giá trị giống như một quyết định, một bản án của Toà án nếu xét trên góc độ thi hành.
Các học giả phương Tây khi nghiên cứu một cách tổng thể pháp  luật công chứng của Việt Nam và các nước  phương  Tây  đã đánh giá  rằng Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với nhiều tranh  chấp  về  quyền sở hữu  đất đai. Ở các nước theo truyền thống  luật  thành  văn,  các tranh chấp này không tồn tại bởi Nhà nước đã trao  thẩm  quyền  duy nhất cho các công chứng viên để thực hiện toàn bộ các giao dịch chuyển đổi bất  động sản (như  mua bán,  chia tách hay thừa kế). Công chứng viên là người bảo đảm, là chủ thể của hệ thống tài sản đất đai và là thẩm phán  của hợp đồng. Công chứng viên biết rằng họ trực thuộc một cơ quan thống nhất đặt dưới thẩm  quyền  của Nhà  nước. Vấn đề ở đây  không  phải là  trao  lợi thế cho  một ngành nghề cụ thể,  mà là để xã hội có được những “thẩm phán hợp đồng” độc lập,  đáng tin  cậy  và công bằng. Đó là cơ sở để có được sự hài hòa trong xã hội.  Có  thể thấy rằng những giá trị, ý nghĩa, vai trò  của công chứng và  công chứng  viên vừa nêu của hệ thống công chứng Latinh chưa được  thể hiện  hoặc  thể hiện  còn khá mờ nhạt trong pháp luật Việt Nam.
Công ty Luật Minh Khuê (tổng hợp)