1. Thế nào là tranh tụng?

Xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng được hiểu theo ba nội dụng khác nhau: thứ nhất được hiểu là một mô hình tố tụng; thứ hai được hiểu là một nguyên tắc thuộc tố tụng hình sự; thứ ba được hiểu là phương thức, là giai đoạn thực hiện vai trò của các chức năng đối lập nhau và có quyền ngang nhau trong tố tụng hình sự hay còn gọi là hoạt động tranh tụng. Dù hiểu theo nghĩa nào thì tranh tụng luôn có bản chất là phương thức đi tìm sự thật khách quan của vụ án mà hoạt động tố tụng hình sự muốn hướng tới. Theo nhiều luật gia, phương thức tranh tụng là phương thức có ưu điểm nhất trong việc vừa có thể tìm ra sự thật khách quan của vụ án vừa có thể bảo vệ hữu hiệu quyền con người của người buộc tội và chống oan sai. Có thể hiểu: “Tranh tụng là việc từng bên đưa ra các quan điểm của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia”.

2. Nguyên tắc tranh tụng

Nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 BLTTHS 2015 như sau: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án hình sự do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và các tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

3. BLTTHS 2015 bổ sung các quy định mới để bảo đảm tranh tụng

Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung quy định nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật (Điều 321) và nhấn mạnh trách nhiệm của Kiểm sát viên là phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Đồng thời, bổ sung trách nhiệm của Hội đồng xét xử là phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án (Điều 322).

4. Luận tội của Viện kiểm sát

- Căn cứ để luận tội:

Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

- Phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi:

Khi Kiểm sát viên luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

- Quan điểm của Kiểm sát viên:

Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giáchứng cứ, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.

- Kiến nghị của Kiểm sát viên:

Trong quá trình kiểm sát xét xử vụ án, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng, Kiểm sát viên kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật để bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ thống nhất.

Qua đó cho thấy, Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa để phân tích, đánh giá chứ không nêu lại nội dung hoặc kể lại diễn biến vụ án, tránh lặp lại nội dung cáo trạng một lần nữa. Khi phân tích, đánh giá không được áp đặt ý chí chủ quan của cá nhân, suy luận chủ quan duy ý chí hoặc lấy chứng cứ bên này áp đặt cho bên kia, nhất là đối với các vụ án có đồng phạm phải phân tích rõ yếu tố đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”, chứ không được chủ quan, áp đặt “có mặt thì đặt tên” dễ xảy ra oan sai vì họ có mặt, có tham gia nhưng họ không cố ý cùng thực hiện tội phạm với người khác thì họ chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ đã thực hiện, họ không liên quan đến hành vi phạm tội của người khác.

Mặt khác, khi lượng hình Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo khi các tình tiết được thể hiện rõ ràng, nếu vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì phải thực hiện khấu trừ giữa tình tiết tăng nặng với tình tiết giảm nhẹ, từ đó xác định từ tiết tăng nặng nhiều hơn hay tình tiết giảm nhẹ nhiều hơn. Sau khi khấu trừ Kiểm sát viên áp dụng Điều 54 BLHS đề nghị một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS. Hoặc Kiểm sát viên có thể đề nghị một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 BLHS nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Kiểm sát viên có thể đề nghị hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Kiểm sát viên phải nêu rõ lý do của việc đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Sau khi trình bày luận tội, Kiểm sát viên còn phải tranh luận với bị cáo, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác (nếu có), nên những vật chứng, chứng cứ phục vụ cho tranh luận đưa vào luận tội phải lựa chọn cho phù hợp, những chứng cứ xét thấy không phù hợp, không dùng để chứng minh đối với hành vi của tội phạm và người phạm tội, nếu đưa vào luận tội sẽ gây khó khăn trong quá trình tranh luận thì không nên đưa ra để bàn luận, nhằm tránh việc bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác lợi dụng kẽ hở để tranh luận, phản bác quan điểm của Kiểm sát viên dẫn đến Hội đồng xét xử phải ngừng phiên tòa để trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Có thể nói một cách dễ hiểu, luận tội là phương tiện để buộc tội bị cáo, giúp cho Hội đồng xét xử nhận thấy được hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và hậu quả pháp lý của hành vi nguy hiểm đó, để Hội đồng xét xử ra một phán quyết đúng đắn. Do đó, muốn bảo vệ được cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, Kiểm sát viên cần bám sát vào những chứng cứ có trong hồ sơ và đã được kiểm tra tại phiên tòa để luận tội một cách ngắn gọn, chặt chẽ, lô gic không luận tội dài dòng, mênh mang làm cho bị cáo, người bào chữa nắm bắt các điểm yếu, điểm sơ hở của Kiểm sát viên để tranh luận, bác bỏ cáo trạng và chứng minh mình không phạm tội, làm giảm uy tín của Kiểm sát viên trước phiên tòa.

5. Tranh luận tại phiên tòa 

Tranh luận tại phiên tòa làm một thủ tục không thể thiếu tại phiên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Việc tranh luận tại phiên tòa được quy định nhằm đảm bảo cho vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia phiên tòa được phân tích, đánh giá chứng cứ của vụ án góp phần đề ra những biện pháp xử lý phù hợp nhất với pháp luật. Việc tranh luận tại phiên tòa cũng là một phương tiện hữu hiệu để người bào chữa hoặc bị cáo tiến hành phân tích lập luận, đưa ra lý lẽ hợp lý, sắc bén, có sức thuyết phục để bảo vệ bị cáo một cách hiệu quả nhất.

 - Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.

Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.

- Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.

Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.

- Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.

Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.

- Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)