- 1. Quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong BLTTHS 2003
- 2. Quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong BLTTHS 2015
- 3. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp có đồng phạm hoặc còn người phạm tội khác
- 4. Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong trường hợp có vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng
- 5. Phân biệt "Trả hồ sơ điều tra bổ sung và "Trả hồ sơ truy tố lại"
1. Quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong BLTTHS 2003
Theo Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:
Điều 168. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:
1. Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
2. Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác;
3. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Những vấn đề cần được điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung.
Thực tiễn việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 168 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trong nhiều vụ án hình sự gặp khó khăn, nhất là trong trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi thấy “còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được”, bởi nhận thức không thống nhất về “chứng cứ quan trọng". Tình trạng này dẫn đến một số vụ án phải trả đi trả lại hồ sơ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
2. Quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong BLTTHS 2015
Nhằm khắc phục các quy định có tính chất định tính, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được hoàn thiện quy định về trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung (Điều 245). Theo đó, quy định cụ thể những trường hợp Viện kiểm sát trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung do còn thiếu chứng cứ (điểm a khoản 1) theo hướng: Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung khi thuộc trường hợp còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được, đó là: có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo về đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội; hoặc những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt. Việc quy định cụ thể những nội dung này giúp cho các Kiểm sát viên, Điều tra viên thống nhất quan điểm trong việc xác định chứng cứ, đồng thời, tạo sự phối hợp tốt giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong việc đề ra yêu cầu và thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung, giúp việc bổ sung chứng cứ được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm các chứng cứ được thu thập, bổ sung là khách quan, liên quan, đúng pháp luật và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, phục vụ tốt việc quyết định truy tố bị can. Đồng thời, quy định rõ các trường hợp khác mà Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung, đó là: có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can; hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (các điểm b, c, d khoản 2 Điều 245).
Để bảo đảm đầy đủ, rõ ràng về nội dung, Điều luật quy định: quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần điều tra bổ sung và phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như: số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng; căn cứ ban hành văn bản tố tụng; nội dung của văn bản tố tụng; họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng...
Điều luật quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản. Kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung. Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế. Việc chuyển hồ sơ vụ án kèm theo kết luận điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát; việc giao, nhận, gửi thông báo kết quả điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định tại Điều 232 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
3. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp có đồng phạm hoặc còn người phạm tội khác
Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can là một trong các căn cứ đế Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung.
Theo Điều 4 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
- Khi có căn cứ để khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
+ Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác;
+ Ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác;
+ Ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc có người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can.
- Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp sau đây:
+ Nếu có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 242 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
+ Nếu quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 246 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Trả hồ sơ điều tra bổ sung trong trường hợp có vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng
Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 245 và điểm d khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
- Lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nhưng không có phê chuẩn của Viện kiểm sát hoặc việc ký lệnh, quyết định tố tụng không đúng thẩm quyền;
- Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Khởi tố vụ án hình sự nhưng không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nhập vụ án hoặc tách vụ án không đúng quy định tại Điều 170 hoặc Điều 242 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án cho người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền bào chữa, quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác;
- Chưa điều tra, lập lý lịch của bị can; chưa xác định được những đặc điểm quan trọng về nhân thân của bị can, bị cáo (tuổi, tiền án, tiền sự), lý lịch hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội (tên, địa chỉ, những vấn đề khác liên quan đến hồ sơ pháp lý của pháp nhân thương mại);
- Không có người phiên dịch, người dịch thuật cho người tham gia tố tụng trong trường hợp họ không sử dụng được tiếng Việt hoặc tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt; họ là người câm, người điếc, người mù theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không từ chối tiến hành, tham gia tố tụng hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong trường hợp quy định tại các điều 49, 51, 52, 53, 54, 68, 69 và 70 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Việc điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh đối với vụ án không đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên không có giá trị chứng minh trong vụ án hình sự;
- Biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà không chuyển cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chứng cứ để chứng minh đối với vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố nhưng không đưa vào hồ sơ vụ án hoặc bị sửa chữa, thêm bớt dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án;
- Việc điều tra, truy tố không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
- Có căn cứ để xác định có việc bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật;
- Khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ;
- Những trường hợp khác phải ghi rõ lý do trong quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng;
- Người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi.
5. Phân biệt "Trả hồ sơ điều tra bổ sung và "Trả hồ sơ truy tố lại"
- Trả hồ sơ điều tra bổ sung:
+ Cơ sở pháp lý: Điều 245, Điều 280 BLTTHS
+ Thẩm quyền: Viện kiểm sát (Điều 245); Tòa án (Điều 280)
+ Các trường hợp trả hồ sơ: Khoản 1 Điều 245; khoản 1 Điều 280
- Trả hồ sơ truy tố lại:
+ Cơ sở pháp lý: Điều 298 BLTTHS
+ Thẩm quyền: Tòa án (Điều 298)
+ Các trường hợp trả hồ sơ: Khoản 3 Điều 298
Trong trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 245, cơ quan thực hiện việc điều tra bổ sung là Cơ quan điều tra, còn theo quy định tại Điều 280 BLTTHS thì cơ quan thực hiện việc điều tra bổ sung theo yêu cầu của Tòa án là Viện kiểm sát, nếu Viện kiểm sát thấy tự mình có thể thực hiện việc điều tra lại thì Viện kiểm sát sẽ trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 246 BLTTHS.
Trong trường hợp trả hồ sơ để truy tố lại, theo quy định tại khoản 3 Điều 298 BLTTHS, cơ quan thực hiện việc truy tố lại theo yêu cầu của Tòa án là Viện kiểm sát.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)