1. Truy tố là gì?

Truy tố là việc đưa người phạm tội ra trước tòa án để xét xử. Ở nhiều nước, truy tố thuộc thẩm quyền của Viện công tố. Ở Việt Nam hiện nay, truy tố người phạm tội ra trước tòa thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân. Sau khi kết thúc điều tra, cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố rồi gửi cùng hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện thẩm quyền truy tố.

Truy tố là một giai đoạn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Giai đoạn truy tố được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự.

Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn truy tố về hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. 

2. Nguyên tắc truy tố hình sự

Nguyên tắc truy tố - Nhà nước, chứ không phải cá nhân công dân có quyền và nghĩa vụ truy tố. Nguyên tắc Nhà nước truy tố, không phụ thuộc vào việc nạn nhân có muốn truy tố hay không. Chức năng này do cơ quan nhà nước (Viện kiểm sát hay Viện công tố, có nước còn giao cho Cảnh sát hoặc Hải quan truy tố đối với một số tội phạm nhất định). Kết thúc giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát (Viện công tố) phải quyết định có đưa vụ án ra toà hay không, lập văn bản chính thức và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong quá trình ra quyết định truy tố, cơ quan Công tố viên phải đánh giá chứng cứ để xem xét về khả năng bị cáo có thể bị kết tội (tại tòa) hay không. Quá trình tố tụng cũng có thể có những thiếu sót như quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dẫn đến việc không thể truy tố. Có căn cứ để quyết định không truy tố tội phạm do tính chất của hành vi tội phạm và mức độ lỗi của bị cáo; nếu tội phạm ít nghiêm trọng và lỗi của bị cáo nhẹ thì Công tố viên có thể huỷ bỏ thủ tục tố tụng một cách vô điều kiện nếu lợi ích công chúng không đòi hỏi buộc phải truy tố. Khi quyết định huỷ bỏ, cả lợi ích chung và lợi ích cá nhân của bị cáo đều được cân nhắc để không ảnh hưởng đến nguyên tắc hợp pháp.

Trên thế giới hiện nay có hai nguyên tắc truy tố được vận hành chủ yếu, đó là nguyên tắc truy tố bắt buộc và nguyên tắc tùy nghi truy tố. Nguyên tắc truy tố bắt buộc được áp dụng ở nhiều nước theo truyền thống luật lục địa đặt ra yêu cầu khi có đầy đủ bằng chứng về hành vi phạm tội của một người nào đó, cơ quan công tố bắt buộc phải truy tố người đó ra toà (như Cộng hoà Liên Bang Đức, Việt Nam). Theo nguyên tắc truy tố bắt buộc hay truy tố theo luật, mọi hành vi đủ các yếu tố cấu thành tội phạm đều phải được chuyển sang Tòa án xét xử. Nguyên tắc truy tố này bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật, mọi người phạm tội đều phải được Tòa án xét xử nhưng là một nguyên tắc cứng nhắc "truy tố theo luật", xa rời thực tiễn, hoàn cảnh cụ thể làm phát sinh vụ án.

Trước khi có Bộ luật TTHS năm 1988, pháp luật TTHS nước ta còn có thủ tục miễn tố. Chế định miễn tố hoàn toàn khác với chế định đình chỉ vụ án. Miễn tố có nghĩa là bị can đã phạm tội và có thể đã phải chịu trách nhiệm hình sự trong giai đoạn điều tra như bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, nhưng sau khi cân nhắc các mặt như bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị can có nhân thân tốt, thì không cần thiết phải đưa ra tòa xét xử. Đến Bộ luật TTHS năm 1988 và năm 2003, đã bỏ thủ tục miễn tố và quy định nguyên tắc truy tố bắt buộc, nghĩa là khi có đủ căn cứ xác định có tội phạm và bị can thì Viện kiểm sát phải làm cáo trạng truy tố tội phạm.

Nguyên tắc tùy nghi truy tố được áp dụng ở hầu hết các nước theo truyền thống luật án lệ và ở một số nước Châu âu lục địa cho phép Công tố viên có quyền lựa chọn truy tố tội phạm. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở không phải mọi hành vi phạm tội đều phải đưa ra toà do phải cân nhắc các nguồn lực và lợi ích công chúng. Thay vì truy tố tất cả, cơ quan công tố chỉ tập trung vào các tội phạm nghiêm trọng, phức tạp tùy theo biến động của tình hình. Khi áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tố, Viện công tố có quyền không truy tố một tội phạm ngay cả khi đủ bằng chứng phạm tội. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà phán quyết có tội ở các nước Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Vương Quốc Anh rất cao, tại Nhật Bản hơn 99%. Tại Trung Quốc, khi đã đầy đủ chứng cứ và xét thấy cần truy tố bị can ra toà thì Viện kiểm sát mới quyết định việc truy tố. Việc sử dụng linh hoạt nguyên tắc quyết định truy tố hay không truy tố cho phép Viện công tố chỉ đưa ra toà xét xử những tội phạm nghiêm trọng, đình chỉ những vụ phạm tội ít nghiêm trọng, nhằm giải quyết một cách mềm dẻo vấn đề tội phạm, cân bằng giữa lợi ích công và lợi ích cá nhân.

Nếu như nguyên tắc truy tố bắt buộc (nguyên tắc “truy tố theo luật" đòi hỏi, mọi vụ việc đều phải được chuyển cho Tòa án xét xử khi xác định người đã có hành vi phạm tội), thể hiện tính công bằng và bình đẳng trong TTHS, thì nguyên tắc tùy nghi truy tố tuy không đạt được yêu cầu này nhưng tạo ra sự độc lập, chủ động trong hoạt động của Công tố viên và khi đó Công tố viên không thuần túy chỉ là người áp dụng luật pháp mà còn là người đại diện cho lợi ích của công chúng trong việc hành xử công tố quyền. Nguyên tắc truy tố bắt buộc có tác dụng ngăn cản mọi sự tác động từ bên ngoài vào hoạt động của Công tố viên nhưng thường lãng phí thời gian, gây tốn kém các nguồn lực, các cơ quan tư pháp không tập trung đấu tranh chống những tội phạm nghiêm trọng, phức tạp. Nguyên tắc tùy nghi truy tố chịu sự can thiệp của dư luận công chúng nhưng bảo đảm hiệu quả tiết kiệm cho hệ thống tư pháp. Không sợ áp dụng nguyên tắc tùy nghi truy tố, cơ quan công tố sẽ lạm quyền, ở các nước áp dụng nguyên tắc này, đã có cơ chế giám sát nội tại chặt chẽ để ngăn ngừa, chế ước quyền tự quyết của Viện kiểm sát (Viện công tố). trong việc truy tố hay không truy tố một tội phạm. Nếu Cơ quan điều tra cho rằng quyết định miễn tố của Viện kiểm sát (Viện công tố) không đúng, có quyền kiến nghị với Tòa án. Tòa án sẽ tổ chức một phiên tòa mở do một Thẩm phán chủ trì để nghe Kiểm sát viên (Công tố viên) lập luận các căn cứ của việc miễn tố; nếu lý lẽ không thuyết phục thì buộc Kiểm sát viên (Công tố viên) phải xem xét lại quyết định của mình như phải huỷ quyết định miễn tố và đưa vụ án ra tòa; nếu đủ căn cứ thuyết phục thì Kiểm sát viên (Công tố viên) vẫn giữ nguyên quyết định miễn tố.

3. BLTTHS 2003 và thẩm quyền truy tố

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định cụ thể thẩm quyền xét xử của Tòa án, trên cơ sở đó quy định thẩm quyền điều tra thực hiện theo thẩm quyền xét xử; tuy nhiên, Bộ luật không quy định cụ thể về Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Điều này đã gây nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, nhất là đối với những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp dưới nhưng Cơ quan điều tra Bộ Công an tiến hành điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, nhưng không thể truy tố ra Tòa án cùng cấp vì Tòa án nhân dân tối cao không có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án. Thực tiễn thời gian qua, sau khi ra quyết định truy tố bị can, Viện kiểm sát cấp trên đã ủy quyền, chuyển hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại Tòa án. Việc áp dụng cơ chế này là căn cứ vào nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, do chưa được Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rõ nên quá trình thực hiện có ý kiến cho rằng việc ủy quyền như vậy là chưa phù hợp. Mặt khác, do không trực tiếp thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra nên có những vụ án, Viện kiểm sát cấp dưới gặp khó khăn trong việc tranh tụng, bảo vệ cáo trạng truy tố; một số vụ án phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung dẫn đến kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.

4. BLTTHS 2015 bổ sung quy định về thẩm quyền truy tố

Để giải quyết vướng mắc nêu trên, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được bổ sung quy định mới nhằm xác định rõ thẩm quyền truy tố (Điều 239), cụ thể là: Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việc truy tố. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án. Đồng thời, quy định: trường hợp xác định vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định. Điều luật cũng quy định cụ thể trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác. Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.

5. Ủy quyền truy tố

Đối với vấn đề ủy quyền truy tố, tại khoản 1 Điều 239 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.

Có thể nói, những bổ sung nêu trên có ý nghĩa quan trọng, giải quyết những vướng mắc liên quan đến thẩm quyền truy tố nói chung và vấn đề ủy quyền truy tố nói riêng; xây dựng khung pháp lý để thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát các cấp; phù hợp với nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành Kiểm sát được Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)