1. Kháng cáo là gì?

Kháng cáo là thủ tục tố tụng sau khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhằm xem xét lại nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án sơ thẩm, khiến cho những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo chưa có hiệu lực thi hành (trừ các trường hợp được cho thi hành ngay).

2. Những bổ sung trong BLTTHS 2015

Để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, thống nhất với cách xử lý trong Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, trên cơ sở pháp điển hóa Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư xét xử phúc thẩm của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo hướng rõ ràng, mạch lạc, cụ thể như quy định rõ trách nhiệm, thủ tục của Ban giám thị Trại tạm giam, Trưởng nhà tạm giữ nơi đang giam giữ bị cáo nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo; bổ sung quy định người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo và Tòa án này phải lập biên bản về việc kháng cáo, gửi biên bản cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung (Điều 332);

Bổ sung 01 điều luật (Điều 334) quy định thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo với nội dung cụ thể như sau: (1) Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này. (2) Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. (3) Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ. (4) Trường hợp nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật này nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu cố) để chúng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. (5) Trường hợp người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn. Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.

3. Thủ tục kháng cáo

Theo BLTTHS 2003 thì:

Điều 233. Thủ tục kháng cáo và kháng nghị

1. Người kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.

2. Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị bằng văn bản, có nêu rõ lý do. Kháng nghị được gửi đến Tòa án đã xử sơ thẩm.

 Theo BLTTHS 2015 thì:

 Điều 332. Thủ tục kháng cáo

1. Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.

Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.

Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.

Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.

2. Đơn kháng cáo có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;

c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;

d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.

Như vậy, có thể thấy về căn bản thì quy định về thủ tục kháng cáo theo quy định của BLTTHS 2015 có sự bổ sung so với quy định trong BLTTHS 2003.

4. Thủ tục tiếp nhận và xử lí kháng cáo

Điều 334 BLTTHS 2015 quy định về thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo. Đây là một quy định mới so với BLTTHS 2003.

Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP quy định:

- Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp sơ thẩm

+ Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ nhận đơn và kiểm tra người làm đơn kháng cáo có thuộc chủ thể có quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo có thuộc giới hạn của việc kháng cáo được quy định theo BLTTHS hay không, đồng thời kiểm tra kháng cáo có được làm trong thời hạn quy định của BLTTHS và hay không để tiến hành tiếp các công việc theo quy định của BLTTHS và hướng dẫn của Nghị quyết này.

+ Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì Chánh án Toà án cử một Thẩm phán hoặc một cán bộ Toà án tiếp và giải quyết. Nếu người kháng cáo biết chữ và viết được thì hướng dẫn để họ tự viết đơn. Nếu họ muốn trình bày trực tiếp thì lập biên bản về việc kháng cáo đó theo đúng quy định của BLTTHS.

+ Trong trường hợp đơn kháng cáo bảo đảm đầy đủ các điều kiện theo quy định của BLTTHS và hướng dẫn của Nghị quyết này thì tiến hành thông báo về việc kháng cáo theo quy định.

+ Trong trường hợp đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định và là của người có quyền kháng cáo nhưng nội dung kháng cáo chưa cụ thể, chưa rõ ràng, thì Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho họ để họ thể hiện nội dung kháng cáo cho cụ thể và rõ ràng theo quy định của pháp luật.

+ Trong trường hợp đơn kháng cáo là của người không có quyền

kháng cáo hoặc nội dung kháng cáo không thuộc giới hạn của việc kháng cáo thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, Toà án cấp sơ thẩm trả lại đơn cho người làm đơn và ghi chú vào sổ nhận đơn về việc trả lại đơn. Việc trả lại đơn phải được thông báo bằng văn bản trong đó ghi rõ lý do của việc trả lại đơn. Nếu trước đó việc kháng cáo này đã được thông báo thì thông báo trả lại đơn cũng phải được gửi cho những nơi đã có thông báo.

+ Trong trường hợp đơn kháng cáo là của người có quyền kháng cáo, nội dung kháng cáo thuộc giới hạn kháng cáo, nhưng quá thời hạn thì Toà án cấp sơ thẩm lập hồ sơ kháng cáo quá hạn và gửi đơn kháng cáo cùng các giấy tờ, tài liệu kèm theo chứng minh lý do của việc kháng cáo quá thời hạn (nếu có) cho Toà án cấp phúc thẩm để xét lý do kháng cáo quá hạn. Nếu trong vụ án chỉ có kháng cáo quá hạn, không có kháng cáo khác, không có kháng nghị thì Toà án cấp sơ thẩm chưa phải gửi hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm.

- Việc nhận kháng cáo và xử lý kháng cáo tại Tòa án cấp phúc thẩm

+ Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kháng cáo và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) thì Toà án cấp phúc thẩm phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các công việc nêu trên.

+ Trong trường hợp người kháng cáo đến Tòa án cấp phúc thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì Tòa án cấp phúc thẩm giải thích cho họ biết là họ chỉ có quyền trình bày trực tiếp về việc kháng cáo với Tòa án cấp sơ thẩm.

5. Về phạm vi và thẩm quyền kháng cáo

Thẩm quyền và phạm vi kháng cáo của các chủ thể đã được quy định rất rõ ở Điều 331 BLTTHS 2015. Tuy nhiên, khi so sánh với khoản 2 Điều 357 BLTTHS 2015 vẫn còn một điểm chưa thống nhất. Ở khoản 1 Điều 331 BLTTHS 2015 quy định bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Tuy nhiên, tại Điều 357 BLTTHS 2015 quy định về kháng cáo theo hướng tăng nặng lại chỉ quy định “trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu”. Như vậy, để kháng cáo theo hướng tăng nặng thì người đại diện của bị hại không có quyền kháng cáo. Như vậy, quy định tại Điều 357 và Điều 331 BLTTHS 2015 là mâu thuẫn với nhau và không đảm bảo quyền kháng cáo của bị hại có người đại diện hợp pháp. Do đó, nên bổ sung quy định về quyền kháng cáo của người đại diện của bị hại vào khoản 2 Điều 357 BLTTHS 2015.

6. Vấn đề hình thức thực hiện kháng cáo

BLTTHS 2015 cho phép chủ thể thực hiện quyền kháng cáo theo hai hình thức là đơn kháng cáo và trình bày kháng cáo trực tiếp tại Tòa án. Tuy việc này là hợp lý nhưng chúng còn tồn tại một số hạn chế sau:

Thứ nhất, về nội dung biên bản kháng cáo: Điều 332 BLTTHS chỉ ghi nhận nội dung cần có trong đơn kháng cáo mà không quy định biên bản kháng cáo trong trường hợp kháng cáo trực tiếp tại Tòa án phải có những nội dung gì. Mặc dù vấn đề này nhìn chung thuộc về nghiệp vụ của Tòa án, tuy nhiên, để thống nhất cũng như đảm bảo nội dung của biên bản, chúng tôi cho rằng cần quy định thêm vấn đề này.

Trong hệ thống pháp luật nước ta nói chung, có không ít các thủ tục có thể thực hiện bằng đơn hoặc trình bày trực tiếp, hầu hết các vấn đề đó đều ghi nhận nội dung của biên bản khi trình bày trực tiếp phải có các nội dung như đối với đơn. 

Thứ hai, kháng cáo trực tiếp tại Tòa án là một hình thức kháng cáo được pháp luật ghi nhận, do đó, về nguyên tắc, hình thức này cũng được thực hiện khi kháng cáo quá hạn. Tuy nhiên, Điều 335 BLTTHS 2015 về kháng cáo quá hạn lại không hề nhắc đến trường hợp này. Đây là một thiếu sót trong quy định của BLTTHS 2015 về việc kháng cáo quá hạn. 

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)