1. Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

Trong hệ thống pháp luật, việc đảm bảo tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật là rất quan trọng để đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong công tác áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn có những trường hợp mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản này, gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật.

Để giải quyết vấn đề này, theo quy định của Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2020, nguyên tắc áp dụng VBQPPL được cụ thể hóa như sau:

Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Trong trường hợp hành vi xảy ra khi văn bản đó đang có hiệu lực, thì áp dụng văn bản đó. Nếu có quy định trước đó về cùng một vấn đề, thì áp dụng quy định đó.

Thứ hai, nguyên tắc áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Nếu có nhiều văn bản quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Thứ ba, ưu tiên áp dụng quy định của văn bản ban hành sau. Điều này đảm bảo rằng các quy định pháp luật được áp dụng phù hợp nhất với tình hình thực tế tại thời điểm đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, việc áp dụng nguyên tắc này cũng có thể gây ra một số khó khăn, đặc biệt là khi có sự khác biệt giữa các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực ngang nhau do được ban hành bởi các cơ quan khác nhau.

Thứ tư, nguyên tắc áp dụng văn bản mới.

Nguyên tắc này áp dụng khi có văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực. Nguyên tắc này phản ánh tính nhân đạo của hệ thống pháp luật khi ưu tiên áp dụng các quy định có lợi cho đương sự. Văn bản mới có thể được áp dụng để giải quyết vụ việc hiện tại hoặc xử lý các vấn đề xảy ra trước thời điểm văn bản mới có hiệu lực.

Thứ năm, áp dụng quy định của điều ước quốc tế, trừ Hiến pháp

Nguyên tắc này áp dụng khi việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được ngăn cản việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quốc tế và văn bản pháp luật trong nước có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng, trừ trường hợp vi phạm Hiến pháp.

Điều này đảm bảo rằng các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết được thực thi và có ưu tiên hơn trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các quy định nội địa và quốc tế.

2. Bộ luật có phải văn bản pháp luật hiệu lực pháp lý cao nhất hay không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 119 Hiến pháp 2013 quy định như sau:

- Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

- Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

- Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý.

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp.

- Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định.

Như vậy căn cứ theo quy định nêu trên, Bộ luật không phải là văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất. Hiến pháp mới là luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

3. Một số bất cập khi sắp xếp vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm trong hệ thống pháp luật?

Văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của quyền lực nhà nước, thể hiện khả năng của mỗi cơ quan trong việc điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Do đó, vị trí của một văn bản trong hệ thống pháp luật phụ thuộc vào vị trí của cơ quan ban hành trong bộ máy nhà nước. Theo quy tắc này, các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có vị trí cao trong bộ máy nhà nước ban hành sẽ có vị trí cao hơn trong hệ thống pháp luật, và ngược lại.

Một số nhóm văn bản quy phạm pháp luật vẫn còn đang gặp khó khăn trong việc xác định vị trí thứ bậc chính xác của chúng trong hệ thống pháp luật. Trong đó:

Đầu tiên, việc xác định vị trí của nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội vẫn là một thách thức. Những văn bản này được ban hành bởi sự phối hợp giữa một cơ quan nhà nước có thẩm quyền và một cơ quan trung ương của một tổ chức chính trị – xã hội. Tuy nhiên, do tổ chức chính trị – xã hội không thuộc vào cơ cấu bộ máy nhà nước, việc xác định hiệu lực của văn bản dựa trên vị trí của các tổ chức này trở nên khó khăn. Do đó, để giải quyết vấn đề này, nghị quyết liên tịch do Ủy ban thường vụ Quốc hội và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành có thể được coi là có hiệu lực bằng nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội độc lập ban hành. Tương tự, nghị quyết liên tịch do Chính phủ và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành có thể được coi là có hiệu lực bằng văn bản do Chính phủ độc lập ban hành.

Thứ hai, việc xác định vị trí thứ bậc của các thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là một vấn đề quan trọng. Quy định này cho thấy các thông tư liên tịch, trừ trường hợp thông tư liên tịch của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được phối hợp ban hành bởi các chủ thể có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước. Trong cấu trúc của bộ máy nhà nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được hiểu là có vị trí cao hơn so với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Do đó, các thông tư này cần phải được coi là có hiệu lực pháp lý thấp hơn so với thông tư do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao độc lập ban hành, nhưng lại có hiệu lực cao hơn so với thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ độc lập ban hành.

Một số lưu ý khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật:

- Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân.

- Trong trường hợp các nghị quyết của cùng một hội đồng nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của nghị quyết được ban hành sau.

- Trong trường hợp các quyết định, chỉ thị của cùng một uỷ ban nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quyết định, chỉ thị được ban hành sau.

Xem thêm: Văn bản nào có hiệu lực pháp lý cao nhất theo quy định?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Bộ luật có phải văn bản pháp luật hiệu lực pháp lý cao nhất? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!