1. Kháng nghị là gì?

Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử.

Theo khoản 1 Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định "Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm."

Kháng nghị (của Viện kiểm sát) không phải là khái niệm duy nhất chỉ có trong trình tự phúc thẩm mà nó còn là căn cứ để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu là căn cứ để xét xử tái thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Khi Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên toà sơ thẩm hình sự, nếu xét thấy bản án và quyết định của Tòa án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và mọi quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát phải có trách nhiệm yêu cầu đưa vụ án lên Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại bằng quyền năng pháp lý do luật định đó là kháng nghị phúc thẩm.

Từ đó, có thể định nghĩa: Kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời.

2. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị

Để bảo đảm tính cụ thể, minh bạch, rõ ràng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp người tham gia tố tụng, Bộ luật quy định về nội dung của quyết định kháng nghị và trách nhiệm của Viện kiểm sát đã ban hành kháng nghị phải gửi quyết định này cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị thay vì để Tòa án thông báo việc kháng nghị như hiện nay, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người có liên quan đến kháng nghị. Cụ thể Điều 338 BLTTHS 2015 quy định như sau:

 Điều 338. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị

1. Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu của người kháng cáo.

2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.

3. Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.

 Trong khi đó, BLTTHS 2003 quy định:

 Điều 236. Thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị

1. Việc kháng cáo, kháng nghị phải được Toà án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị.

2. Người được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Toà án cấp phúc thẩm. ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án

3. Nội dung của quyết định kháng nghị

Theo khoản 2 Điều 336 BLTTHS 2015 quy định:

Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung chính:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;

b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

c) Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;

d) Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.

Đây là một quy định mới không được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

4. Thời hạn kháng nghị

Theo Điều 337 BLTTHS 2015:

Điều 337. Thời hạn kháng nghị

1. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.

2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Quy định này bộc lộ một số vướng mắc, hạn chế như sau:

Thứ nhất, về thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm. Quy định của pháp luật về vấn đề này tương đối rõ ràng, nghĩa là thời điểm này bắt đầu tính từ ngày tuyên án. Ví dụ, ngày tuyên án là ngày 05/3 thì ngày kết thúc thời hạn kháng cáo là 24 giờ ngày 29/3. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là nó đã hợp lý hay chưa?

Ví dụ, trong trường hợp ngày tuyên án là ngày 11/12/2019 thì hiện nay, việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc kháng cáo, kháng nghị có hai quan điểm khác nhau:

- Quan điểm thứ nhất: Thời điểm bắt đầu tính là ngày 12/12, thời điểm kết thúc là 24 giờ ngày 27/12. Quan điểm này vận dụng theo hướng dẫn tại tiểu mục 4.1 mục 4 Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP.

- Quan điểm thứ hai: Thời điểm bắt đầu tính là ngày 11/12, thời điểm kết thúc là 24 giờ ngày 26/12.

Theo như phân tích ở trên, quy định của BLTTHS hiện nay đã khá rõ ràng, và theo đó, quan điểm thứ hai là chính xác. Tuy nhiên, điều này là thiếu hợp lý so với hướng dẫn của Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP. Bởi việc quy định như quan điểm thứ hai trong nhiều trường hợp sẽ bất lợi cho các chủ thể có quyền kháng  nghị do phiên tòa kết thúc muộn và việc tuyên án diễn ra gần như cuối ngày. Do đó, để bảo đảm quyền lợi cho các chủ thể đó, nên có hướng dẫn hoặc quy định về thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị như Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP.

Thứ hai, về thời hạn được quy định: có quan điểm cho rằng thời hạn được quy định là quá ngắn, trong nhiều trường hợp không đảm bảo thời gian cho việc xem xét tiến hành kháng nghị. Cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 262 BLTTHS 2015, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao, gửi bản án cho các chủ thể, đối tượng theo quy định. Như vậy, pháp luật cho phép Tòa án gửi bản án trong thời hạn 10 ngày nhưng chỉ cho thực hiện việc kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 15 ngày (30 ngày đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp) là không hợp lý. Nếu như bản án được Tòa án giao gửi đúng trong thời hạn 10 ngày, đồng nghĩa với việc chỉ còn 5 ngày để thực hiện việc kháng nghị và thời gian này là không đủ để xem xét bản án, quyết định có kháng nghị hay không. Đồng thời, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp cũng có khó thể nghiên cứu hồ sơ để phát hiện căn cứ kháng nghị trong thời gian 20 ngày.

5. Một số bất cập trong quy định về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

- Đối tượng kháng nghị:

Hiện nay, BLTTHS 2015 không quy định đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tại một điều luật nhất định. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 330 BLTTHS 2015 quy định Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này. Căn cứ vào quy định này, có thể thấy được đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm gồm: Quyết định tạm đình chỉ vụ án; Quyết định đình chỉ vụ án; Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo; Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và Quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định tại Bộ luật này.

Điều luật quy định về đối tượng kháng cáo là “những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của bộ luật này”. Đây là một quy định mang tính khái quát. Như vậy, những quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là những quyết định nào? Xét về nội dung, những quyết định của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm “Những quyết định hành chính tư pháp nhằm đảm bảo hoạt động đúng đắn của trình tự phúc thẩm ,“không định đoạt việc giải quyết vụ án” thì không phải là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm”. Hiện nay, BLTTHS 2015 quy định một số quyết định là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm như sau: Quyết định khởi tố vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm; quyết định của Tòa án về việc áp dụng bắt buộc biện pháp chữa bệnh; quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Tuy nhiên, quyết định này không quyết định, định đoạt việc giải quyết vụ án nên để không kéo dài thời gian tố tụng và thời gian giải quyết vụ án không nên đưa những quyết định này là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

- Về thẩm quyền và phạm vi kháng nghị:

Về thẩm quyền và phạm vi kháng nghị đã được quy định rất rõ tại Điều 336 BLTTHS 2015. Theo đó, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị toàn bộ quyết định hoặc bản án sơ thẩm. Theo như quy định tại khoản 2 Điều 357 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị việc tăng mức bồi thường thiệt hại, theo chúng tôi là chưa hợp lý, bởi vì tại khoản 1, Điều 107 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Về bản chất, thực hành quyền công tố là hoạt động của VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự3. Viện kiểm sát kiến nghị về mức bồi thường, bồi hoàn là vi phạm nguyên tắc động cơ hành động trong việc kháng nghị vì Viện kiểm sát là chủ thể của quyền công tố, không phải là chủ thể của tố quyền dân sự trong vụ án hình sự. Việc Viện kiểm sát kháng nghị về mức bồi thường, bồi hoàn là vi phạm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, Viện kiểm sát không có quyền thỏa thuận với bị cáo hoặc đương sự về mức bồi hoàn.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)