1 Quy định chung về xét xử phúc thẩm trong án hình sự

Xét xử phúc thẩm là biện pháp của Toà án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của Toà án và quyết định của Toà án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật.

Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự có những đặc điểm sau:

- Toà án cấp phúc thẩm không chỉ kiểm tra việc tuân theo yêu cầu của pháp luật trong khi xét xử của Toà án cấp dưới, mà còn kiểm tra tính đúng đắn của các tình tiết thực tế được xác định trong bản án, tức là đồng thời kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án.

- Toà án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi những lý do kháng cáo hoặc kháng nghị, mà kiểm tra toàn bộ vụ án đối với tất cả những người bị kết án, kể cả những người không kháng cáo và những người mà bản kháng nghị không đề cập theo hướng có lợi cho họ mà không làm bất lợi cho người khác.

- Khi xét xử phúc thẩm, những người tham gia tố tụng có các quyền rộng rãi. Để khẳng định những lý do của mình, người kháng cáo hoặc kháng nghị có thể không chỉ viện dẫn những chứng cứ có trong vụ án, mà còn được xuất trình những tài liệu mới (các loại giấy chứng nhận và các chứng từ khác) chưa được xem xét tại Toà án cấp sơ thẩm. Người bào chữa đã tham gia phiên toà sơ thẩm vẫn có thể tiếp tục tham gia phiên toà phúc thẩm để bảo vệ cho người mà mình đã bảo vệ ở phiên toà sơ thẩm

2 Thẩm quyền xét xử phúc thẩm

Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự là Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Ví dụ: Toà án cấp huyện xét xử sơ thẩm thì Toà án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm, nếu Toà án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm thì Toà phúc tham Toà án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm vụ án đó.

Căn cứ vào phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ, toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Điều 344 BLTTHS năm 2015 quy định Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị. Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

3 Phạm vi xét xử phúc thẩm

Theo điều 345 BLTTHS năm 2015 quy định về phạm vi xét xử như sau Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.

Như vậy, trước hết Toà án cấp phúc thẩm phải xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị trước, sau đó nếu thấy cần thiết mới xem xét các phần không bị kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, việc xem xét nội dung của kháng cáo, kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm không bị hạn chế bởi việc quỵết định theo hướng có lợi cho người kháng cáo (chấp nhận kháng cáo) hoặc theo hướng kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát (chấp nhận kháng nghị), có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, giảm bồi thường, miễn hình phạt... thậm chí tuyên bố bị cáo không phạm tội hoặc cũng có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự về tội nặng hơn, tăng bồi thường... nếu có kháng cáo, kháng nghị theo hướng đó. Nhưng nếu Toà án cấp phúc thẩm xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị thì chỉ được quyết định theo hướng không làm xấu đi tình trạng của bất cứ ai. Ví dụ giảm hình phạt cho bị cáo không có kháng cáo.

Phạm vi xét xử phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc Toà án cấp phúc thẩm ra bản án, phạm vị xét xử phúc thẩm quyết định giới hạn bản án phúc thẩm. Có thể nói, Toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà khồng bị hạn chế bỏi nội dung kháng cáo, kháng nghị với điều kiện do luật định.

4 Quy định về thời hạn xét xử phúc thẩm

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 346 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm là 60 ngày đối với toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu, 90 ngày đối với toà án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Thời hạn nổi trên gồm thời hạn ra quyết định cần thiết và thời hạn mở phiên toà. Thời hạn thẩm phán chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là 45 ngày đối với toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với toà án nhân dân cấp cao, Toà án quân sự trung ương, kể từ ngày thụ lí vụ án. Thời hạn toà án mở phiên toà phúc thẩm là 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

- Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm hoặc đưa vụ án ra xét xử và Đình chỉ xét xử phúc thẩm được quy định tại Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Do kháng cáo, kháng nghị phát sinh việc thực hiện thẩm quyền của toà án cấp phúc thẩm nên việc rút kháng cáo, kháng nghị có hậu quả đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, thẩm phán chủ toạ phiên toà có thể quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với vụ án hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.

Căn cứ vào Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự có quy định thời gian nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm là 10 ngày đối với Viện kiểm sát cấp tỉnh, 20 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

5 Toà án cấp phúc thẩm áp dụng, thay đổi hoặc hụỷ bỏ biện pháp ngăn chặn

Việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế là do tòa án cấp phúc thẩm thực hiện trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

Theo quy định của điều 347 BLTTHS năm 2015 quy định thì sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định.

Các biện pháp ngăn chặn được quy định tại điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm tạm hoãn xuất cảnh . Tuy nhiên, đối với Toà án cấp phúc thẩm không phải bao giờ cũng áp dụng hết các biện pháp ngăn chặn trên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, Toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng một hoặc một số các biện pháp ngăn chặn quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng khi đã áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn thì phải bảo đảm các quy định về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.Nếu Toà án cấp phúc thẩm áp dụng biện pháp tạm giam bị cáo thì thời hạn tạm giam không được quá thời hạn xét xử phúc thẩm Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án cấp phúc thẩm ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà. Quy định này cho phép Toà án cấp phúc thẩm có thể tạm giam bị cáo một thời gian từ khi lệnh tạm giam hết hạn cho đến khi kết thúc phiên toà.

Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị phạt tù thì Toà án quyết định bắt giam ngay, trừ các trường hợp được hoãn thi hành án phạt tù quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi Bộ luật tố tụng hình sự được sửa đổi, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 20-3-1993 hướng dẫn như sau: đối với các bị cáo không bị tạm giam và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, thì trong bản án phức thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải quyết định bắt giam bị cáo ngay sau khi tuyên án. Khi tuyên án xong, Toà án cấp phúc thẩm phải giao ngay bản trích lục bản án phúc thẩm cho cơ quan Công an và người bị kết án để thi hành.. Đồng thời sau khi kết thúc phiên toà, Toà án cấp phúc thẩm gửi ngay bản sao bản án phúc thẩm và thông báo ngay cho Toà án cấp sơ thẩm đã xử vụ án đó biết là người bị kết án đã bị bắt giam. Toà án cấp sơ thẩm ra ngay quyết, định thi hành án theo quy định tại Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988. Để thực hiện quy định này, khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đối với bị cáo đang được tại ngoại, nếu thấy có đủ căn cứ để kết án phạt tù và bị cáo không thuộc trường hợp có thể được hựởng án treo, cũng không thuộc trường hợp có thể được hoãn thi hành hình phạt tù, thì Toà án cấp phúc thẩm cần trao đổi trước với cơ quan Công an tĩnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi mà Toà án cấp phúc thẩm sẽ mở phiên toà xét xử vụ án để cơ quan Công an chuẩn bị người, phương tiện cần thiết cho việc bắt giam ngay người bị kết án khi có quyết định của Toà án cấp phúc thẩm.

Đối với BLTTHS năm 2015 quy định như sau :Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của BLTTHS năm 2015 Trường hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo mà xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh án Tòa án ra quyết định tạm giam mới.Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật này.Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!