1. Mối quan hệ giữa Bộ luật tố tụng hình sự và Bộ luật hình sự

Mối quan hệ giữa Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa luật nội dung và luật hình thức. Nội dung nào thì phải có hình thức tương ứng; hình thức phù hợp sẽ là điều kiện để đưa nội dung vào cuộc sống. Bộ luật hình sự là đạo luật quy định về tội phạm và hình phạt, Bộ luật tố tụng hình sự quy định về cách thức phát hiện và xử lý tội phạm. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với quá trình sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự là phải nắm bắt kịp thời những đổi mới trong Bộ luật hình sự, từ đó quy định đầy đủ thủ tục tố tụng cho việc xử lý vấn để mới, đưa chính sách hình sự nhanh chóng đi vào cuộc sống. Xuất phát từ yêu cầu đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục tố tụng để tương thích với Bộ luật hình sự 2015.

2. Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm pháp nhân

Nội dung đổi mới có tính đột phá trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong Bộ luật hình sự năm 2015 là áp dụng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.

Trong bối cảnh hiện nay, việc quy định TNHS đối với pháp nhân là cần thiết với những lý do sau:

Thứ nhất, trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, nhiều doanh nghiệp vì mục tiêu lợi nhuận đã và đang thực hiện nhiều hành vi bất chấp an toàn, tính mạng con người, xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, tổ chức, công dân, trật tự xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực về môi trường, thuế, buôn lậu, kinh doanh hàng giả, xây dựng... với mức độ càng lúc càng gia tăng về sự tinh vi của hành vi, thiệt hại của hậu quả.

Thứ hai, các chế tài hành chính, dân sự hiện hành chưa đủ mạnh để răn đe, phòng ngừa.

Thứ ba, việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân là xu thế phù hợp với hội nhập quốc tế.

Hiện nay, rất nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Canada, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc... đã quy định TNHS đối với pháp nhân. Điều này cũng được quy định trong nhiều Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, Công ước chống tham nhũng, Công ước về phòng chống rửa tiền… Do vậy, việc bổ sung loại tội phạm này trong pháp luật hình sự của nước ta như là một minh chứng cho việc hội nhập quốc tế của Việt Nam, như là một cam kết của chúng ta trong việc thực hiện các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời, việc quy định này cũng đưa pháp luật nước ta xích lại gần hơn, phù hợp với luật pháp của nhiều nước trên thế giới.

Đáp ứng đổi mới của Bộ luật hình sự năm 2015, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung Chương XXIX với 16 điều luật quy định cụ thể thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm pháp nhân. Theo đó, khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện, cơ quan tố tụng phải khởi tố vụ án hình sự. Việc tham gia tố tụng của pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện. Quá trình tiến hành tố tụng, pháp nhân có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản; tạm đình chỉ hoạt động có thời hạn; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án. Ngoài các yêu cầu chung, quá trình chứng minh tội phạm, cơ quan tố tụng phải làm rõ lỗi của pháp nhân, lỗi của từng cá nhân là thành viên của pháp nhân trên cơ sở đó xác định chính xác trách nhiệm hình sự.

3. Trình tự, thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên

Đổi mới chính sách hình sự đối với người chưa thành niên (hay còn gọi là người dưới 18 tuổi) dành được sự quan tâm đặc biệt trong việc sửa đổi Bộ luật hình sự lần 2015.

Với quan điểm nhất quán trong việc bảo vệ trẻ em, Nhà nước Việt Nam đã tham gia Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và đã thúc đẩy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền trẻ em, trong đó, đã dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng trẻ em vi phạm pháp luật, nhất là những trường hợp người chưa thành niên (hay còn gọi là người dưới 18 tuổi) phạm tội. Chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người chưa thành niên nhận ra sai lầm, từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hòa nhập cộng đồng.

Quán triệt nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tối nhất cho người chưa thành niên”, Bộ luật hình sự năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là đã mở rộng những trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm phát huy các biện pháp giáo dục tại cộng đồng thay vì các biện pháp hình sự. Theo đó, người chưa thành niên phạm tội thuộc một số trường hợp nhất định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả gây ra thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục. Đáp ứng đổi mới này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã được bổ sung và quy định cụ thể trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan tố tụng, trách nhiệm của chính quyền sở tại trong việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với người chưa thành niên (gồm: khiển trách; hòa giải tại cộng đồng; giáo dục tại xã, phường, thị trấn (các điều 426, 427, 428, 429).

4. Thủ tục liên quan đến hình phạt tử hình

Nhằm thể chế hóa chủ trương nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta về hạn chế hình phạt tử hình, Bộ luật hình sự năm 2015 đặt ra nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung, trong đó mở rộng thêm 02 trường hợp không áp dụng, không thi hành án tử hình gồm:

Một là, không áp dụng, không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên;

Hai là, không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.

Đây là chủ trương rất nhân đạo, đồng thời tạo cơ chế khuyến khích người phạm tội tích cực hợp tác với các cơ quan tố tụng nhanh chóng phá án, thu hồi tài sản tham nhũng. Để các quy định này triển khai thuận lợi trong thực tiễn, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ trách nhiệm của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm một mặt, không ra quyết định thi hành án tử hình, mặt khác phải kịp thời báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án (Điều 367).

5. Thủ tục liên quan đến tha tù trước thời hạn

Tha tù trước thời hạn có điều kiện và chịu sự thử thách tại cộng đồng là nội dung mới trong Bộ luật hình sự nước ta được áp dụng đối với phạm nhân có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt, chứng tỏ sự hối cải thực sự. Nhằm đáp ứng sự đổi mới này, một mặt khuyến khích người phạm tội tích cực cải tạo, mặt khác, bảo đảm chặt chẽ, chống lạm dụng, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan lập hồ sơ và nội dung hồ sơ đề nghị xét đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện; trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc nghiên cứu hồ sơ và thể quan điểm đối với đề nghị của cơ quan lập hồ sơ; trách nhiệm và thủ tục Tòa án mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; thủ tục xử lý trong trường hợp người được tha tù trước thời hạn vi phạm nghĩa vụ cam đoan (Điều 368).

6. Thủ tục liên quan đến việc xóa án tích

Liên quan đến vấn đề xóa án tích, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, mọi trường hợp xóa án tích do Tòa án thực hiện (gồm: trường hợp đương nhiên xóa án tích; trường hợp xóa án tích do Tòa án quyết định; xóa án tích trong trường hợp đặc biệt). Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi theo hướng: đối với trường hợp đương nhiên xóa án tích giao cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thực hiện. Nhằm đáp ứng sự đổi mỗi này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 xây dựng 02 thủ tục cụ thể:

(1) Thủ tục xóa án tích do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thực hiện:

Khoản 4 Điều 70 BLHS 2015 quy định “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”.

Theo đó, Bộ Tư pháp sẽ hướng dẫn cho các Sở và các Sở Tư pháp trực tiếp quy định các thủ tục chi tiết để xóa án tích cho các trường hợp được đương nhiên xóa án tích. Những người muốn làm thủ tục đương nhiên xóa án tích sẽ nộp đơn tới Sở Tư pháp của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi mình thường trú.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích

(2) Thủ tục xóa án tích do Tòa án thực hiện nhằm phù hợp với trách nhiệm của từng cơ quan, bảo đảm việc xóa án tích được tiến hành khẩn trương nhưng chặt chẽ, chính xác.

Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xóa án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.

Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)