Trả lời:
1. Căn cứ pháp lý:
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007.
2. Luật sư tư vấn:
Một trong các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình được ghi nhận đầu tiên đó là nguyên tắc:
"Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng"
Bên cạnh đó, tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình khi quy định về điều kiện kết hôn, không có điều kiện nào là "buộc phải có sự đồng ý của cha mẹ hai bên nam, nữ" mà chỉ bao gồm các điều kiện sau:
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.
Ngoài ra, tại Khoản 2 Điều 5 về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình có quy định:
2. Cấm các hành vi sau đây:
...
h) Bạo lực gia đình;
Mà Điều 2 Luật phòng, chống bạo lực gia đình có quy định về các hành vi bạo lực gia đình gồm:
1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:
a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Đối chiếu với trường hợp của bạn, hai bạn hoàn toàn có quyền đến với nhau miễn là các bạn đáp ứng các điều kiện kết hôn. Hai bên gia đình không có quyền ngăn cản việc kết hôn của các bạn. Hành vi ngăn cản hôn nhân tự nguyện, tiến bộ là một trong các hành vi bạo hành gia đình và có thể bị xử phạt tùy theo mức độ vi phạm. Tuy nhiên, việc bố mẹ ngăn cản có thẻ xuất phát từ những lý do, mâu thuẫn hoặc hiểu lầm nào đó. Các bạn là con nên có lẽ việc tố cáo bố mẹ có hành vi ngăn cản chuyện kết hôn của mình có lẽ không đúng với đạo hiếu làm con. Mặc dù các bạn có thể đến với nhau nhưng trong lòng bố mẹ bạn và trong lòng các bạn sẽ luôn có những suy nghĩ, muộn phiền. Do vậy, chúng tôi khuyên hai bạn nên thẳng thắn và chân thành nói chuyện với hai bên gia đình để tìm xem mâu thuẫn giữa bố mẹ và bạn trai bạn ở đâu để có thể giải quyết mâu thuẫn. Tránh trường hợp gây dạn nứt mối quan hệ gia đình đôi bên.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình về đăng ký kết hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê