1. Cướp giật điện thoại bị phạt bao nhiêu năm tù ?

Cướp giật điện thoại bị phạt bao nhiêu năm tù ?

Luật sư tư vấn mức phạt với hành vi cướp giật điện thoại, gọi ngay: 1900.6162

Câu hỏi: Chồng tôi có giật 1 điện thoại di động. Lúc đó chồng tôi có điều khiển xe, không gây ra thương tích gì cho người bị hại. Đây là lần đầu, chồng tôi chưa tiền án tiền sự. Chồng tôi là lao động chính trong nhà (gia đình có đứa con 4 tuổi và tôi đang mang thai sắp sinh); bà ngoại của chồng là thương binh liệt sĩ. Vậy chồng tôi có được giảm án?
Mức án chồng em là bâo lâu? Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội cướp giật tài sản như sau:

"Điều 171. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng."

Vì bạn chưa cung cấp giá trị tài sản cướp giật được là bao nhiêu căn cứ điều khoản trên để xác định tình tiết định khung tội phạm.

Dựa vào những thông tin mà bạn cung cấp thì chồng của bạn có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sẽ không bị áp dụng mức cao nhất của khung hình phạt, còn việc bị phạt bao nhiêu năm tù là do Hội đồng xét xử quyết định.

Bạn có thể tham khảo một số tình tiết giảm nhẹ khác của BLHS có thể vận dụng để giảm nhẹ tối đa mức phạt, cụ thể:

- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

- Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

- Phạm tội do lạc hậu;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai;

- Người phạm tội là người già;

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác.

Trân trọng.

>> Xem thêm:  Bên mua cướp xe đi bán khi xe đang có tranh chấp và chờ Tòa án giải quyết ?

2. Có bị kết tội nếu bắt cướp lại vô tình gây án mạng ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Câu hỏi: Việc đuổi và đạp ngã xe người vừa cướp giật để lấy lại tài sản cho bị hại không phải là hành vi nhằm tước đoạt tính mạng người khác. Trong ý thức, người bắt cướp chỉ muốn giật lại tài sản, nên khi tên cướp bị chết thì không đủ dấu hiệu quy kết về tội giết người?

Trả lời:

Chào Chi Mai, Vì không có đủ điều kiện để xác minh đầy đủ nội dung thông tin do bạn cung cấp, chúng tôi giả định rằng: những thông tin của bạn nêu là hoàn toàn xác thực; người bạn của bạn đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực hành vi đầy đủ theo quy định của pháp luật; hành vi đạp ngã xe đối tượng vừa cướp giật tài sản và đang chạy trốn của người bạn của bạn ở trong điều kiện không thể lựa chọn biện pháp nào khác để ngăn chặn việc trốn chạy của nạn nhân và hành vi đó cũng là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân trong trường hợp bạn nêu.

Hậu quả chết người trong trường hợp bạn nêu trên là rất lớn, thể hiện tổn thất tính mạng con người và mất mát rất nhiều cho gia đình nạn nhân, nhưng xét trong phạm vi thông tin bạn nêu cũng như giả định chúng tôi đặt ra, chúng tôi nhận thấy rằng hành vi của người bạn của bạn chưa phải là dấu hiệu cấu thành tội phạm (các tội xâm phạm đến tính mạng con người được quy định từ Điều 123 đến Điều 140) theo quy định tại Bộ luật hình sự.

Cụ thể, chúng tôi đối chiếu dấu hiệu của hành vi nói trên đối với các hành vi khác trong các điều luật có nội dung liên quan đến hành vi giết người/làm chết người khác để có thể nhìn nhận rõ hơn vấn đề dưới góc độ pháp lý:

Thứ nhất, hành vi chạy theo và đạp ngã xe một người vừa cướp giật tài sản, đang chạy thoát để lấy lại tài sản cho người bị hại thể hiện tinh thần ngăn chặn việc trốn chạy của đối tượng, giúp người bị hại lấy lại tài sản bị cướp. Đây không phải là hành vi nhằm tước đoạt tính mạng của người khác, ý thức của người thực hiện hành vi chỉ muốn ngăn chặn việc trốn chạy của một đối tượng vừa thực hiện hành vi cướp giật tại sản để lấy lại tài sản cho người bị hại. Ở đây không tồn tại ý thức cố ý tước đoạt tính mạng của nạn nhân, mà trong ý thức của người thực hiện hành vi chỉ thể hiện hành động có tính nghĩa hiệp, ngăn chặn sự chạy trốn và mong muốn giành lại tài sản bị cướp giật cho người bị hại. Do đó, không đủ dấu hiệu cấu thành “tội giết người” theo Điều 123 BLHS.

Thứ hai, việc đạp ngã xe mô tô (hoặc xe gắn máy) của người khác ngã xuống đường trong lúc người đó phóng xe với tốc độ nhanh, lại không đội mũ bảo hiểm, đường có giải phân cách (con lươn)… thể hiện khả năng rất cao có thể dẫn đến chết người. Người bạn của bạn ý thức điều này nhưng lại đứng trước hoàn cảnh không thể lựa chọn biện pháp khác nên buộc phải đạp ngã xe của đối tượng vừa có hành vi cướp giật tài sản để ngăn chặn việc chạy thoát. Như vậy, người bạn của bạn ý thức được hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng buộc phải lựa chọn việc thực hiện hành vi đó nhằm mục đích đấu tranh chống lại hành vi xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của người khác. Hơn nữa, không đủ căn cứ để chứng minh người bạn của bạn “cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được” theo quy định tại khoản 1, Điều 11 BLHS nên không thể xác định hành vi của người bạn này được thực hiện một cách vô ý. Từ đó, không đủ dấu hiệu cấu thành “tội vô ý làm chết người” theo Điều 128 BLHS.

Thứ ba, hành vi cướp giật tài sản của nạn nhân đã hoàn thành, do đó việc đuổi theo đạp ngã xe của nạn nhân trong trường hợp này không mang tính chất “phòng vệ”. Bởi vì, hành vi có tính phòng vệ chỉ đặt ra khi nạn nhân trong trường hợp này đang có hành vi vi phạm pháp luật, nghĩa là hành vi cướp giật đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc. Do vậy, không thể xác định đây là hành vi “vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 22 BLHS, thế nên không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm về “tội giết người do vựơt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo Điều 126 BLHS.

Thứ tư, người bạn của bạn trong trường hợp này không thuộc chủ thể thực hiện nhiệm vụ công theo nghề nghiệp, do công tác như: công an, bộ đội biên phòng, kiểm lâm, hải quan, bảo vệ cơ quan… Đồng thời, người bạn của bạn thực hiện hành vi đuổi bắt cướp không phải trên cơ sở nhiệm vụ được giao, cũng không phải trong trường hợp đang cùng với người có nhiệm vụ cùng thực hiện một nhiệm vụ công (Ví dụ: người này tự nguyện cùng với công an đuổi bắt cướp, hoặc được công an đề nghị giúp đỡ việc bắt cướp…).

Hiện nay, việc người dân tự ý tham gia đấu tranh chống những hành vi xâm phạm đến lợi ích của nhà nước hoặc lợi ích hợp pháp của công dân như đuổi bắt trộm, cướp, phòng chống tham nhũng… chưa được quy định là hành vi thực hiện nhiệm vụ công. Như vậy, hành vi của người bạn của bạn không được coi là hành vi thuộc trường hợp đang thi hành công vụ. Thế nên, không phải là dấu hiệu cấu thành “tội làm chết người trong khi thi hành công vụ” theo Điều 127 BLHS.

Thứ năm, khoản 1, Điều 125 quy định “NNgười nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Tuy nhiên, trường hợp này hành vi cướp giật tài sản của nạn nhân được thực hiện đối với một người phụ nữ qua đường, không phải cướp giật tài sản của người bạn của bạn hoặc người thân thích của người bạn này, do đó hành vi này không phải là dấu hiệu cấu thành “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo Điều 125 BLHS.

Thứ sáu, theo mô tả hành vi mà người bạn của bạn thực hiện trong trường hợp này, rõ ràng biểu hiện về mặt hành vi cũng như hậu quả do hành vi đó gây ra không đủ dấu hiệu cấu thành các tội danh xâm phạm tính mạng con người được quy định ở các điều luật khác trong BLHS.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 8, “khái niệm tội phạm” của BLHS thì “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự …”.

Như vậy, với hành vi cụ thể này, đối chiếu với các điều luật liên quan đến các tội danh xâm phạm tính mạng con người mà chúng tôi trình bày ở trên, không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do đó hành vi này không được coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Về nghĩa vụ bồi thường, bạn của bạn có thể phải bồi thường thiệt hại tùy thuộc vào mức độ lỗi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả, mức độ thiệt hại, tổn thất trên thực tế cho gia đình nạn nhân theo quy định của pháp luật dân sự.

>> Xem thêm:  Hành vi nhổ cây ở vỉa hè bị xử phạt như thế nào ?

3. Hành vi cướp tài sản sẽ bị luật hình sự xử phạt thế nào ?

Câu hỏi mới phạm tội lần đầu, em là người chở, người ngồi sau giựt đồ không thành công và đã chạy thoát. Còn em bị bắt và em đã thành thật khai báo. Thì tội em mức án bao nhiêu năm ?

Luật sư tư vấn:

Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Tội cướp giật tài sản: "1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm". Việc bạn đi xe máy cướp giật sẽ bị phạt tù từ 1-5 năm.

Trường hợp bạn là người cầm lái thì bạn bị coi là đồng phạm. Điều 58 BLHS quy định:

"Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm

Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.

Như vậy, mức án cho mỗi đồng phạm được quyết định dựa trên nhiều yếu tố. Bạn cần xem xét đầy đủ các yếu tố liên quan quy định tại Điều 58 nêu trên để xác định rõ hơn trách nhiệm hình sự với mỗi đồng phạm.

Trân trọng,

4. Cướp tài sản và những vấn đề liên quan ?

Câu hỏi: Tôi có người cháu năm nay 24 tuổi. Nhà cháu có 4 anh chị em, cháu là con út trong gia đình. Bố cháu mất sớm khi cháu chưa đầy 4 tuổi. Do hoàn cảnh gia đình khó khăn cháu không có tiền tiếp tục theo học nên cháu phải nghỉ học từ sớm để làm kinh tế giúp gia đình. Cháu tôi phải làm rất nhiều việc để kiếm sống trong đó có làm muối, phụ hồ, đào vàng... trong quá trình đi làm kinh tế cháu tôi bị nghiện hút ma tuý. Gia đình không có tiền cho hút ngày 12/05/2019 cháu tôi đã ra đường dừng phương tiện xe máy của 1 người đi đường và để xin tiền. Người này có 70.000 đồng trong ví nhưng cháu tôi không lấy đòi lấy điện thoại. Nhưng người này không đưa và cháu tôi đã sử dụng típ sắt vụt vào mặt người bị hại nhưng không gây hậu quả gì cho người bị hại.
Gia đình phát hiện kịp thời và đã đưa cháu đến cơ quan công an để cơ quan công an giáo dục cháu giúp gia đình. Nhưng do tính chất của sự việc cháu bị bắt tạm giam ngày 12/05/2019.

Ngày 07/8/2019 toà án nhân dân huyện đưa cháu ra xét xử. Và tuyên phạt cháu 8 năm tù giam về tội cướp tài sản. Tôi nghĩ nếu cướp tài sản thì cháu chưa đạt được mục đích, và cháu đã chủ động đến cơ quan công an để trình báo sự việc. Hiện nay đang trong thời gian kháng cáo, gia đình cũng chẳng biết nên kháng cáo theo hướng nào xin luật sư hướng dẫn để gia đình có hướng đi giúp nhẹ tội hơn.

Trả lời:

Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội cướp tài sản:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Tội cướp tài sản là tội có cấu thành tội phạm hình thức, tức là chỉ cần có hành vi xảy ra, không cần có hậu quả thực tế thì tội phạm đã hoàn thành.

Do đó, trong trường hợp của cháu bạn, tội phạm đã hoàn thành.

Một trong các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; Người phạm tội tự thú; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;.... (Điều 51 BLHS)

Tội phạm đã hoàn thành, để được giảm mức án, gia đình có thể kháng cáo theo hướng có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm xin giảm mức án xuống.

Trân trọng.

5. Người chưa thành niên phạm tội?

Cướp 2 chiếc điện thoại thì bị phạt bao nhiêu năm tù?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.6162

Câu hỏi: Tôi có em trai đủ 15 thuê xe taxi khống chế đòi cướp tiền nhưng chưa cướp được thì bị phát hiện và bị công an bắt, vậy em tôi có thể đưa vào nhà trường giáo dưỡng được không?

Trả lời:

Điều kiện áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định như sau:

1. Đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án có thể quyết định áp dụng một trong các biện pháp tư pháp có tính giáo dục, phòng ngừa sau đây:

a) Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

b) Đưa vào trường giáo dưỡng.

2. Toà án có thể áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng.

Người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Toà án giao trách nhiệm.

3. Toà án có thể áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ một năm đến hai năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần đưa người đó vào một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ.

4. Nếu người được giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc người được đưa vào trường giáo dưỡng đã chấp hành một phần hai thời hạn do Toà án quyết định và có nhiều tiến bộ, thì theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, Toà án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng."

Do vậy, em bạn có thể đủ điều kiện đưa vào trường giáo dưỡng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê