1. Bỏ trốn khi nợ tiền công ty có bị đi tù không ?

Câu hỏi: Em thu tiền hàng của công ty về nhưng lỡ làm mất và bây giờ em không có tiền để trả công ty nên em dự định bỏ về quê, kiếm tiền ra trả sau. Nhưng giám đốc công ty đã kiện và chi 32 triệu đồng để công an bắt được em. Như vậy em có bị đi tù không?
Em xin trân thành cảm ơn luật sư.

Trả lời:

Theo Đều 175 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy trường hợp của bạn là đã làm mất tiền của công ty và bạn không có khả năng trả nợ nay bạn bỏ trốn về quê để kiếm tiền trả lại công ty. Trong trường hợp này sẽ rất khó cho bạn nếu bạn chứng minh được bạn làm mất và bạn cam kết sẽ trả lại công ty thì bạn sẽ không bị khởi tố theo quy định của pháp luật hình sự. Còn nếu bạn có hành vi bỏ trốn và không chứng minh được lý do bỏ trốn là không nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền trên thì bạn sẽ bị truy tố tội lạm dụng tín nhiệm.

- Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138,139, 141, 143, 155, 156 và 226 khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

- Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

- Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Như vậy phạm tội quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sựkhông phải là tội khởi tố theo yêu cầu của bị hại nên cho dù công ty có rút đơn tố cáo, nếu đủ bằng chứng buộc tội, bạn vẫn sẽ bị đưa ra khởi tố theo quy định của pháp luật.

-Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Giải quyết tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất như thế nào ? Quyền định đoạt tài sản

2. Tư vấn đòi nợ cho doanh nghiệp ?

>> Luật sư tư vấn Luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Câu hỏi: " Công ty TM V nợ của công ty X ở Đồng Tháp là 20 tỷ đồng. Sau khi nhậm chức, ông B, giám đốc mới không chấp nhận khoản nợ trên với lý do ông không hề biết và trong biên bản bàn giao giữa giám đốc cũ và mới khoản tiền trên không được đề cập tới. Với cương vị là giám đốc công ty X trách nhiệm của mình trong trường hợp này là gì ? hướng giải quyết pháp lý để đòi được khoản nợ ?".
Trả lời:

Theo như những thông tin mà bạn cung cấp, Giám đốc công ty V được tuyển dụng theo hợp đồng lao động. Do vậy, quyền và nghĩa vụ của Giám đốc công ty này sẽ dựa trên các nội dung mà Công ty V đã thỏa thuận với giám đốc đó. Trường hợp Công ty V nợ công ty bạn 20 tỷ đồng, trách nhiệm trả nợ thuộc về phía Công ty V chứ không phải thuộc về cá nhân cụ thể nào, trong trường hợp giám đốc mới được bổ nhiệm thì sẽ điều hành công ty theo sự chỉ đạo của Hội đồng thành viên nếu là công ty TNHH và hội đồng quản trị nếu là CTCP. Cơ cấu tổ chức mới của công ty sẽ có trách nhiệm điều hành các hoạt động kinh doanh và gánh vác nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn đã góp của công ty. Do đó, trong trường hợp này, nếu công ty bạn có đầy đủ chứng cứ, chứng từ, hóa đơn về việc Công ty V đã nợ công ty mình thì phía bên bạn hoàn toàn có thể làm thủ tục kiện đòi tại Tòa. Nhưng cần lưu ý những nội dung sau:

- Thứ nhất, về thời hiệu khởi kiện :

Căn cứ Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện về hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Trong trường hợp vụ việc đã quá thời hạn thì đương sự cần lưu ý đến trường thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 156 Bộ luật dân sự hoặc thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại theo Điều 157 Bộ luật dân sự và các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

- Thứ hai, là việc nộp hồ sơ khởi kiện phải đúng thẩm quyền của Tòa án:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp Huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu đương sự không ở nước ngoài, tài sản tranh chấp không ở nước ngoài và không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài. Nếu đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài thì đương sự phải yêu cầu Tòa án cấp Tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện.

- Thứ ba, là hồ sơ khởi kiện phải đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật:

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện:

- Giấy tờ vay nợ và các tài liệu khác.

- Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn

- Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện

- Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Trình tự thủ tục khởi kiện đòi lại tài sản thừa kế làm như thế nào ? Quyền quản lý tài sản thừa kế

3. Khởi kiện đối với người vay nợ không trả đã bỏ trốn?

Tư vấn khởi kiện đối với người vay nợ không trả đã bỏ trốn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Câu hỏi: Tôi có cho 1 người mượn 7 chỉ vàng SJC do người cùng xóm dẫn tới với lãi suất mỗi chỉ 100 ngàn đồng/1tháng. Tôi cầm 1 sổ đỏ đất đai của người này và có viết giấy nợ. Anh ta hẹn cuối tháng sau sẽ trả nhưng tới hạn không trả. Tôi có tìm gặp nhưng người này đã đi nơi khác. Sau nhiều lần tôi cũng gặp được và người này viết giấy cam kết sẽ trả đầy đủ trong 1 năm, nhưng tới nay tôi vẫn chưa nhận được tiền. Tôi cố gắng liên lạc cũng không được, tới nhà gặp thì gia đình họ cũng không biết anh ta đi đâu. Vậy giờ tôi phải làm gì? Tôi có thể khởi kiện được không?

Trả lời:

Theo như nội dung thư mà bạn yêu cầu thì bạn cho người khác vay 7 chỉ vàng SJC. Những giao dịch liên quan đến vàng là giao dịch đặc thù và chịu sự quản lý chặt chẽ của nhà nước, trực tiếp là Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Để tạo khung pháp lý trong việc quản lý hoạt động này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng . Tại Điều 4 nguyên tắc quản lý, quyền sở hữu vàng được khẳng định “Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Nhưng tổ chức, cá nhân cũng chịu một số hạn chế như:

- Chỉ được thực hiện việc mua bán vàng miếng tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng (Điều 10).

- Cấm mang theo vàng khi xuất cảnh, nhập cảnh của cá nhân vượt mức quy định không có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp.

- Cấm sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán.

Như vậy pháp luật không cấm giao dịch cho vay vàng giữa các cá nhân nên giao dịch của bạn hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Bên vay có nghĩa vụ như sau theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 :

“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Do đó, nếu hết thời hạn vay mà người đó vẫn không trả tiền cho bạn đồng thời cũng không xác định được địa chỉ của người đó thì bạn có thể sử dụng các cách thức sau để bảo vệ quyền lợi:

Thứ nhất, bạn có thể báo cơ quan công an, tòa án, Viện kiểm sát khi thấy người vay tiền của bạn có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 :

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản....”

Thứ hai, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, sinh sống hoặc làm việc theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để yêu cầu tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trân trọng!

>> Xem thêm:  Thủ tục phân chia di sản thừa kế như thế nào ? Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bao lâu ?

4. Mua điện thoại trả góp nhưng chưa thể trả xong số tiền nợ sẽ bị xử ly thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Câu hỏi: Tôi có mua 1 chiếc điện thoại trả góp trong vòng 10 tháng và 1 tháng tôi phải trả 632.000 đồng. Tôi đã trả 7 tháng và còn nợ lại số tiền là 1.896.000 đồng. Nhưng do công việc phải đi công tác xa nên tôi chưa thể trả xong số nợ còn lại. Vậy tôi có bị sao không?
Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì bạn đã mua điện thoại trả góp nhưng do bận phải đi công tác xa nên chưa trả được hết số nợ còn lại là 1.896.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì bạn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên mua theo đúng hợp đồng mua bán giữa hai bên tuân theo quy định tại Điều 282 như sau: "Nghĩa vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Việc chậm thực hiện nghĩa vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa vụ."

Bạn có nói rằng bây giờ bạn bận phải đi công tác xa nên chưa trả được hết số nợ còn lại là 1.896.000 đồng. Trong trường hợp này cửa hàng điện thoại có thể khởi kiện bạn ra tòa do không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên vấn đề này còn phụ thuộc vào hợp đồng mua bán được xác lập giữa hai bên.

Cần phải xem xét xem việc bạn không trả tiền cho bên bán có xuất phát từ lý do chính đáng hay không, thời hạn thanh toán trong hợp đồng là bao nhiêu, thời hạn chậm trả là bao lâu, cũng như các điều khoản có liên quan của hợp đồng. Hơn hết, nếu bạn có khả năng nhưng cố tình không trả - dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 175 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017 thì bên bán có thể khởi kiện bạn theo quy định của luật hình sự.

Để tránh những bất lợi thì thì bạn có thể thỏa thuận với cửa hàng nơi mua điện thoại để thỏa thuận về việc chậm thực hiện nghĩa vụ của mình.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Khái niệm, nội dung, mục đích và hậu quả pháp lý của cầm cố tài sản ? Mẫu hợp đồng cầm cố

5. Làm cách nào để thu hồi nợ nhanh nhất ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Câu hỏi: Công ty tôi cung cấp hàng cho một công ty khác có hóa đơn chứng từ đầy đủ. Cho đến nay số tiền công ty kia nợ công ty tôi là 600 triệu đồng. Nhưng tôi được biết là công ty đó vừa xảy ra hỏa hoạn có khả năng không đủ chi trả nợ nần. Vì vậy tôi muốn hỏi làm cách nào để đảm bảo công ty đó sẽ trả số tiền còn nợ cho công ty tôi?
Trả lời :

Theo quy định của pháp luật dân sự, thương mại thì các bên khi có nghĩa vụ thanh toán phải thực hiện theo cam kết đã thỏa thuận với nhau theo hợp đồng đã giao kết.

Trường hợp Công ty khách hàng nợ công ty bạn tuy gặp hỏa hoạn nhưng chưa có căn cứ cho rằng họ không có khả năng trả nợ cho Công ty của bạn.

Pháp luật không quy định biện pháp để bên chủ nợ thực hiện đảm bảo việc trả nợ khi có sự kiện hỏa hoạn xảy ra. Do đó, tùy theo thỏa thuận của các bên để bạn có thể buộc khách hàng thanh toán. Nếu còn tài sản để thực hiện việc trả nợ thì khách hàng của bạn phải thực hiện, nếu không bạn có thể khởi kiện ra tòa để yêu cầu tòa án buộc khách hàng trả nợ khi họ cố tình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh KHuê

>> Xem thêm:  Tư vấn về hợp đồng vay trả góp với công ty Home Credit ? Không trả tiền gốc mua trả góp có phạm tội ?