- 1. Người của pháp nhân gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?
- 2. Thế nào được xác định là người của pháp nhân?
- 3. Ví dụ về trách nhiệm bồi thường do người của pháp nhân gây ra
- 4. Người đang thi hành công vụ gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?
- 5. Khi nào thì một người được xác định là người thi hành công vụ?
- 6. Lưu ý khi yêu cầu nhà nước bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra
1. Người của pháp nhân gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?
Theo quy định tại Điều 597 Bộ luật dân sự năm 2015:
Điều 597. Bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Đây là điều luật thể hiện rõ nguyên tắc bồi thường kịp thời được đề cập trong khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự 2015: "Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác."
Theo đó, khi người của pháp nhân gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao thì dù người đó có lỗi hay không có lỗi, pháp nhân vẫn phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Sau khi đã bồi thường cho người bị thiệt hại, pháp nhân có quyền yêu cầu người của pháp nhân có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Có thể trách nhiệm cuối cùng sẽ thuộc về người của pháp nhân có lỗi, nhưng nếu buộc người của pháp nhân bồi thường trực tiếp cho người bị thiệt hại sẽ không đảm bảo nguyên tắc bồi thường kịp thời, bởi vì người của pháp nhân gây thiệt hại sẽ khó có khả năng bồi thường cho người bị thiệt hại ngay khi thiệt hại xảy ra. Hơn nữa, người của pháp nhân đang thực hiện nhiệm vụ pháp nhân giao để mang lại cho pháp nhân những lợi ích nhất định và hành vi gây thiệt hại liên quan đến hoạt động của pháp nhân nên buộc pháp nhân bồi thường là hoàn toàn phù hợp.
Bộ luật dân sự chỉ quy định một cách chung nhất vấn đề yêu cầu hoàn trả giữa pháp nhân với người của pháp nhân có lỗi. Mức hoàn lại là toàn bộ hoặc một phần giá trị thiệt hại mà pháp nhân đã bồi thường trước hết phụ thuộc vào ý chí của pháp nhân. Đối với từng trường hợp, lĩnh vực cụ thể sẽ có những quy định về khọản tiền mà người của pháp nhân phải hoàn trả.
2. Thế nào được xác định là người của pháp nhân?
Điều 597 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
"Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật."
Tuy nhiên, khi áp dụng quy định tại 597 Bộ luật dân sự 2015 vào thực tiễn, một nội dung quan trọng cần phải làm rõ đó là thế nào người của pháp nhân? Người của pháp nhân không chỉ bao gồm các thành viên của pháp nhân mà còn bao gồm những người làm việc cho pháp nhân theo hợp đồng lao động để thực hiện một hoặc một số hoạt động của pháp nhân và được pháp nhân chi trả tiền lương, tiền công. Đối với những người làm việc cho pháp nhân theo hợp đồng dịch vụ theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì không được xác định là người của pháp nhân, và khi người này gây thiệt hại khi thực hiện công việc của pháp nhân sẽ phải tự chịu trách nhiệm bồi thường.
Như vậy, người thực hiện các hoạt động của pháp nhân có thể là người của pháp nhân hoặc là người ngoài pháp nhân, nhưng chỉ những người thực hiện hoạt động của pháp nhân như một nhiệm vụ được giao mới được coi là người của pháp nhân, còn người thực hiện hoạt động của pháp nhân với tư cách là một loại nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng với pháp nhân sẽ không được coi là người của pháp nhân.
3. Ví dụ về trách nhiệm bồi thường do người của pháp nhân gây ra
Hai thanh niên là N và M vào trung tâm thương mại X chơi, vừa đi xem quầy hàng, vừa ăn bánh ngọt. A là nhân viên bảo vệ nhắc nhở nội quy của trung tâm thương mại là khách không được ăn uống trong các quầy hàng. N và M lờ đi, vẫn điềm nhiên ăn tiếp. A nói với B là một nhân viên bảo vệ khác. A và B xông tới, dùng còng tay để còng tay N và M, vừa đánh vừa hô trộm để khách hàng khác tưởng N và M trộm cắp hàng hóa. N và M bị giữ lại đến tối mới được thả về, sau khi phải xin lỗi, van xin A và B nhiều lần. Do bị đánh, N và M đều bị thương tích ở mặt và người. Riêng N do vết thương khá nặng, N phải nghỉ việc, điều trị ở bệnh viện nhiều ngày. Sau đó, N và M đã tố cáo nhân viên bảo vệ của trung tâm đến các cơ quan chức năng và yêu cầu được bồi thường.
– Hành vi của A và B đúng hay sai?
Việc A, B còng tay N, M đánh, sau đó lại giữ N, M trong trung tâm nhiều giờ liền là trái pháp luật. Bảo vệ trung tâm thương mại không phải là người có thẩm quyền còng tay hay đánh người, giữ người.
– Ai phải bồi thường thiệt hại cho N, M?
N, M là nhân viên của trung tâm thương mại, gây thiệt hại khi đang thực hiện công việc được giao. Vì vậy, theo Điều 597 Bộ luật dân sự 2015, bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra, trung tâm X phải bồi thường thiệt hại cho N, M. Sau khi đã bồi thường cho N, M, trung tâm X có quyền yêu cầu A, B phải hoàn trả một khoản tiền bồi thường thiệt hại.
– Xác định thiệt hại gây ra cho N và M?
Hành vi của A, B – bảo vệ trung tâm thương mại X đã gây ra thiệt hại đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của N và M. Vì vậy, trung tâm phải bồi thường thiệt hại về sức khoẻ theo Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 và thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm theo Điều 592 Bộ luật dân sự 2015.
4. Người đang thi hành công vụ gây thiệt hại thì ai phải bồi thường?
Theo quy định tại Điều 598 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 598. Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Theo quy định này, khi người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ được áp dụng theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tức là Bộ luật dân sự không còn là cơ sở căn cứ pháp lý trực tiếp để giải quyết các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.
Đây là một quy định mới về hình thức thể hiện và nội dung điều chỉnh so với Bộ luật dân sự trước đây. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định này đã gộp hai quy định về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra (Điều 619 BLDS trước đây) và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều 620 BLDS trước đây).
Thứ hai, xác định chủ thể phải bồi thường thiệt hại là Nhà nước chứ không phải cơ quan quản lý cán bộ, công chức hay cơ quan tiến hành tố tụng.
Thứ ba, xác định rõ luật áp dụng để giải quyết là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chứ không phải Bộ luật dân sự.
5. Khi nào thì một người được xác định là người thi hành công vụ?
Theo khoản 2 Điều 3 Luật trách nhệm bồi thường nhà nước 2017
"Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng hoặc thi hành án."
Như vậy, có thể thấy người đang thi hành công vụ chỉ có thể là cán bộ, công chức theo Luật cán bộ, công chức.
Khi những người này thực hiện hành vi trái pháp luật (Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật) mà gây thiệt hại thì nhà nước là chủ thể phải bồi thường.
6. Lưu ý khi yêu cầu nhà nước bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra
- Người có quyền yêu cầu bồi thường:
+ Người bị thiệt hại;
+ Người thừa kế của người bị thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại chết; tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ của tổ chức bị thiệt hại đã chấm dứt tồn tại;
+ Người đại diện theo pháp luật của người bị thiệt hại thuộc trường hợp phải có người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự;
+ Cá nhân, pháp nhân được ủy quyền thực hiện quyền yêu cầu bồi thường.
- Thời hiệu yêu cầu bồi thường: Theo Điều 6 Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước 2017
Điều 6. Thời hiệu yêu cầu bồi thường
1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này và trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự.
2. Thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.
3. Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:
a) Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 5 của Luật này không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;
b) Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.
4. Người yêu cầu bồi thường có nghĩa vụ chứng minh khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định tại khoản 3 Điều này.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.