Mục lục bài viết
- 1. Quyền Bình đẳng giới theo quy định của pháp luật
- 2. Các biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình
- 2.1 Bảo đảm bằng pháp luật
- 2.2 Bảo đảm bằng việc tự thực hiện và bảo vệ
- 2.3 Bảo vệ bằng kinh tế và an sinh xã hội
- 2.4 Bảo đảm bằng đạo đức xã hội và truyền thống gia đình
- 2.5 Bảo đảm bằng thông tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ
1. Quyền Bình đẳng giới theo quy định của pháp luật
Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.
Quyền bình đẳng được ghi nhận tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.
2. Các biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình
2.1 Bảo đảm bằng pháp luật
Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật; lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Để hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ bảo đảm tốt nhất lợi ích, các quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân gia đình, đòi hỏi cần phải có hệ thống pháp luật vững chắc để giải quyết các vấn đề trên. Đây được coi là phương thức quan trọng và hiệu quả nhất. Xây dựng pháp luật là để bảo đảm quyền bình đẳng cho người phụ nữ được ghi nhận, ban hành và có tính bắt buộc đối với mọi người, tạo một khung quy định thống nhất về việc các chủ thể có nghĩa vụ và quyền hạn thực hiện các biện pháp, công tác để bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ trong hôn nhân và gia đình. Mặt khác, do phụ nữ là nhóm xã hội đặc biệt, bởi vậy quyền bình đẳng của phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận dựa trên cơ sở của những yếu tố đặc thù về giới, nghĩa là pháp luật phải ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ dựa trên cơ sở của vấn đề bình đẳng giới. Hệ thống các văn bản pháp luật quy định quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình bao gồm: Hiến pháp, hệ thống pháp luật dân sự, hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình và nhiều hệ thống pháp luật khác. Các văn bản quy phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vực cần được thống nhất với nhằm, bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được bảo đảm toàn diện và sâu sắc.
2.2 Bảo đảm bằng việc tự thực hiện và bảo vệ
Để quyền và lợi ích hợp pháp trong hôn nhân và gia đìnhcủa mình được bảo vệ một cách tối đa, không có phương thức nào tối ưu hơn việc chính những người phụ nữ trong gia đình tự bảo vệ bản thân mình trước những hành vi vi phạm. Sở dĩ nói như vậy là bởi, người phụ nữ là một chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, là người trực tiếp tham gia, thực hiện cũng như có đủ các cơ sở để nhận thức rõ về việc có hay không những hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của bản thân. Do đó, bản thân người phụ nữ cần:
+/Một là, người phụ nữ cần tự nâng cao nhận thức của bản thân về các kiến thức pháp luật hiện hành về việc bảo vệ các quyền bình đẳng của bản thân trong hôn nhân và gia đình, đồng thời cần trang bị tốt hơn nữa những kỹ năng, kiến thức để xử lý, giải quyết các tình huống trên thực tế một cách khéo léo, hợp lý bằng cách tham gia các khóa học, khóa đào tạo về chia sẻ kiến thức về hôn nhân gia đình hoặc tìm hiểu qua các trang thông tin chính thống trên báo đài, trên mạng xã hội.
+/ Hai là, người phụ nữ cần nêu lên ý kiến, yêu cầu những cá nhân trong gia đình họ sinh sống chấm dứt các hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của bản thân trong hôn nhân và gia đìnhnhư: hành vi phân biệt đối xử về việc tiếp cận các quyền dân sự – chính trị, , hành vi cưỡng ép kết hôn, hành vi ép buộc người vợ làm việc quá sức... Trong trường hợp, các yêu cầu trên không được chấp nhận và các quyền đó vẫn bị xâm phạm thì cá nhân người phụ nữ đó nên đến các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền tại nơi mình sinh sống như: cơ quan công an, UBND cấp xã, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hội phụ nữ xã, phường... nhờ tư vấn, giúp đỡ và giải quyết, xử lý các trường hợp vi phạm trên.
+/ Ba là, trường hợp các hành vi trên vẫn tiếp diễn và với mức độ ngày càng gia tăng thì người phụ nữ có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết, hoặc gửi đơn yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn khi chính bản thân người phụ nữ trở thành nạn nhân của tình trạng bạo lực gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện và bảo vệ quyền con người, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm người phụ nữ.
2.3 Bảo vệ bằng kinh tế và an sinh xã hội
Đây là một trong các phương thức bảo vệ khá quan trọng và đặc biệt cần nên quan tâm. Với phương thức bảo vệ bằng kinh tế, an sinh xã hội. Để bảo đảm quyền phụ nữ tốt nhất không thể thiếu đi sự chung tay, góp sức của xã hội trong việc cần đưa thêm những chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để phụ nữ có điều kiện phát triển khả năng bản thân, tạo điều kiện và môi trường bình đẳng về việc làm. Hơn nữa, xã hội cũng cần quan tâm và hỗ trợ các chính sách về sử dụng lao động của các cơ quan, tổ chức, pháp nhân khác, bảo hiểm y tế, hỗ trợ phụ nữ có thai, bà mẹ nuôi con nhỏ, các bà mẹ đơn thân... để giúp họ có cuộc sống ổn định và tự chủ hơn về mọi mặt. Qua đó, giúp người phụ nữ có thể vừa phát huy được khả năng bản thân, vừa đáp ứng được mục tiêu bình đẳng và tự chủ về phương diện kinh tế trong gia đình. Đồng thời, giúp cho việc thực hiện và bảo đảm các quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân gia đình được tốt hơn.
2.4 Bảo đảm bằng đạo đức xã hội và truyền thống gia đình
Những nét đẹp đạo đức, những truyền thống tốt đẹp của từng gia đình chắc chắn sẽ là một trong những yếu tố tác động lớn tới việc duy trì và bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đình Việt Nam. Nét đẹp đạo đức sẽ tác động tích cực nhằm điều chỉnh những hành vi của con người theo đúng chuẩn mực xã hội, giúp chúng ta sống tình nghĩa hơn, tôn trọng trên phương diện bảo vệ và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển tiến bộ hơn. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc hạn chế những trường hợp bạo lực gia đình, ngăn chặn những hành vi vi phạm các chuẩn mực chung của mỗi con người. Bên cạnh đó, truyền thống gia đình cũng tác động liên hợp lẫn nhau với nét đạo đức, lối sống con người. Điều này đã tác động và hình thành phần lớn nhân cách con người với đức tính tôn trọng, giữ gìn và lưu truyền các nét đẹp quý giá, biết trân trọng và chung tay đấu tranh nhằm bài trừ các hành vi xâm phạm quyền phụ nữ, qua đó giúp phát triển tốt hơn quyền trên trong xã hội ngày nay.
2.5 Bảo đảm bằng thông tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ
Qua quá trình phân tích tác động của các chủ thể bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân và gia đìnhcho thấy vai trò của các tổ chức, cơ quan hiện nay. Điển hình, bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội và những người thân trong gia đình. Tuy nhiên, việc bảo đảm bằng các quy định pháp luật, thông qua các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm là phương thức thực chất nhất, có hiệu quả nhất. Bởi lẽ, pháp luật do Nhà nước ban hành là hình thức thể hiện ý chí của Nhà nước, có tính cưỡng chế thi hành cao và được cả xã hội tuân theo.
Thứ nhất: Cần tăng cường tuyên truyền giáo dục các vần đề giới, bình đẳnggiới trong gia đình được quy định trong các chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước. Xem việc thực hiện bình đẳng giới là một công việc lâudài và cần sự phối hợp đồng bộ của toàn xã hội. Từ đó, mỗi người ý thức tốt vềvấn đề bình đẳng giới trong gia đình, trách nhiệm bình đẳng giới không chỉ làtrách nhiệm của mỗi cá nhân, mà là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội;là cơ sở quan trọng để xây dựng gia đình “no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnhphúc”
Thứ hai: Tạo điều kiện thuận lợi để mỗi phụ nữ ý thức và tự phấn đấu vươn lên, tự giảiphóng mình; không ngừng cố gắng học tập nâng cao kiến thức để khẳng định vaitrò ví trí của mình trong gia đình và ngoài xã hội. Phụ nữ cần phải dịu dàng,khéo léo thuyết phục, kêu gọi sự cảm thông, sẻ chia trách nhiệm của người chồng trong công việc gia đình, vợ chồng phải tôn trọng nhau
Thứ ba: Đẩy mạnh giáo dục khoa học giới trong hệ thống nhà trường (đặc biệt là các trường THPT), giúp cho thanh thiếu niên nhận thức đượcnhững vần đề giới và bình đẳng giới một cách cơ bản và có hệ thống. Giúp các emý thức được trách nhiệm trong xây dựng gia đình sau này.
Thứ tư: Nâng cao trình độ dân trí, tăng cường vai trò gia đình và bình đẳnggiới. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý về bình đẳng giới. Kiên quyết đấutranh loại bỏ các hành vi bạo lực gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, mỗithành viên trong gia đình được bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau thì xã hội sẽ đạt được dân chủ, công bằng và văn minh
Để có được bình đẳng giới bền vững trong xã hội phải bắt đầu từ trong mỗi gia đình.Thực hiện tốt bình đẳng giới trong gia đình là biện pháp hữu hiệu để xây dựng một xã hội no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc.
Dưới đây là bài viết về "Các biện pháp bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình" trường hợp còn điều gì thắc mắc cần được hỗ trợ quý khách hàng có thể liên hệ qua tổng đài 19006162 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc. Trân trọng!