- 1. Các biện pháp cưỡng chế theo luật thi hành án dân sự?
- 1.1 Thi hành án là gì?
- 1.2 Cưỡng chế thi hành án dân là gì?
- 1.3 Thời gian thi hành án dân sự là bao lâu?
- 2. Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế đối với tài sản là tiền để thi hành nghĩa vụ trả tiền:
- 3. Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế là tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền
- 4. Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật để thi hành nghĩa vụ trả vật
- 5. Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện
1. Các biện pháp cưỡng chế theo luật thi hành án dân sự?
Theo quy định tại điều 71(Luật Thi hành án dân sự 2008, Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014), Bao gồm:
- Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
- Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án.
- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
- Khai thác tài sản của người phải thi hành án.
- Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ.
- Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
1.1 Thi hành án là gì?
Thi hành án là việc cơ quan có thẩm quyền dùng các nguyên tắc, thủ tục và biện pháp đúng pháp luật thực thi quyết định, bản án của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại. Hiện nay, ngoài cơ quan thi hành án, các Văn phòng Thừa phát lại cũng được trao thẩm quyền thi hành án.
1.2 Cưỡng chế thi hành án dân là gì?
Cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực của nhà nước nhằm buộc người phải thi hành án dân sự thực hiện nhữnghành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của tòa án.
1.3 Thời gian thi hành án dân sự là bao lâu?
Theo quy định tại điều 45 Luật thi hành an dân sự sửa đổi, bổ sung 2014 thì hời hạn tự nguyện thi hành án là:
1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.
2. Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế đối với tài sản là tiền để thi hành nghĩa vụ trả tiền:
Phân loại thành 5 biện pháp cưỡng chế
- Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản
Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhau thì chấp hành viên căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản đối với một tài khoản hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền phải thi hành án và chi phí cưỡng chế thi hành án. Nội dung biện pháp này được quy định tại Điều 76, 77 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung 2014.
- Biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
Biện pháp này được quy định tại Điều 78 Luật Thi hành án dân sự , Điều 11, 12 Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014. Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án đối với các khoản như: tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác. Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp: Theo thỏa thuận của đương sự; Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án. Mức khấu trừ không được vượt quá 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật
- Biện pháp cưỡng chế thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
Biện pháp này được quy định tại Điều 79 Luật Thi hành án dân sự, Điều 22 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp xác định được người phải thi hành án có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án theo định kỳ tùy theo tính chất ngành nghề kinh doanh của người phải thi hành án. Khi thu tiền chấp hành viên phải để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải thi hành án và gia đình.
- Biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
Đây là biện pháp được quy định tại Điều 80 Luật Thi hành án dân sự. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp phát hiện người phải thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người phải thi hành án thì chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án.
- Biện pháp cưỡng chế thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Nội dung này quy định tại Điều 81 Luật Thi hành án dân sự năm, Điều 23 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ. Khi phát hiện người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi hành án, chấp hành viên ra quyết định thu khoản tiền đó để thi hành án. Trường hợp phát hiện tổ chức, cá nhân đang phải trả tiền, tài sản cho người phải thi hành án mà khoản tiền tài sản đó đã được xác định bằng bản án, quyết định của Tòa án đang có hiệu lực pháp luật thì chấp hành viên yêu cầu tổ chức, cá nhân đó giao nộp số tiền, tài sản cho cơ quan thi hành án để thi hành án
3. Căn cứ vào đối tượng áp dụng cưỡng chế là tài sản để thi hành nghĩa vụ trả tiền
Phân loại thành 4 biện pháp cưỡng chế
- Biện pháp cưỡng chế thu giữ giấy tờ có giá
Được quy định tại Điều 82, 83 Luật Thi hành án dân sự. Biện pháp này được áp dụng trong trường hợp phát hiện người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ quan thi hành án dân sự thì chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.
- Biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ
Biện pháp này được quy định tại Điều 84, 85, 86 Luật Thi hành án dân sự, Điều 29,30,31 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ và quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Chấp hành viên ra quyết định kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án, kể cả quyền sở hữu trí tuệ của người phải thi hành án đã chuyển quyền sử dụng cho cơ quan tổ chức, cá nhân khác..
- Biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 110,111,112,113 Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Theo đó, chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai. Người phải thi hành án chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 100, 101 Luật Đất đai 2013, hoặc thuộc diện quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó. Khi kê biên quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đất của người phải thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của người khác thì chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho người có tài sản gắn liền với đất.
- Biện pháp cưỡng chế khai thác tài sản
Được quy định tại Điều 107,108,109 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, chấp hành viên cưỡng chế khai thác tài sản trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể khai thác để thi hành án hoặc người được thi hành án đồng ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức: Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác; Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản.
4. Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là vật để thi hành nghĩa vụ trả vật
Phân loại thành 04 biện pháp cưỡng chế
- Biện pháp cưỡng chế trả vật
Nội dung này được quy định tại Điều 114 Luật Thi hành án dân sự , khoản 38 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Theo đó, đối với vật đặc định, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành án; nếu người đó không thi hành thì chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người được thi hành án. Đối với vật cùng loại thì chấp hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định. Trường hợp vật phải trả không còn hoặc bị hư hỏng, giảm giá trị thì xử lý theo thỏa thuận của đương sự.
- Biện pháp cưỡng chế trả nhà, giao nhà
Biện pháp này được quy định tại Điều 115 Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả nhà thì chấp hành viên buộc người phải thi hành án và những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì chấp hành viên yêu cầu lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
- Biện pháp cưỡng chế trả giấy tờ
Biện pháp này được thực hiện theo quy định tại Điều 116 được sửa đổi bổ sung tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự. Theo đó, chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế buộc người phải thi hành án trả giấy tờ cho người được thi hành án. Trường hợp xác định người thứ ba đang giữ giấy tờ phải trả thì chấp hành viên yêu cầu người đó giao giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao thì chấp hành viên cưỡng chế buộc người đó giao giấy tờ để thi hành án.
- Biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
Nội dung này được quy định tại Điều 117 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong trường hợp bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành án. Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao. Trường hợp quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất được chuyển giao hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án..
5. Căn cứ vào đối tượng áp dụng biện pháp cưỡng chế là nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện
Phân loại thành 04 biện pháp
- Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
Biện pháp này được quy định tại Điều 118 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì chấp hành viên quyết 15 định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Nếu công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu. Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
- Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định
Biện pháp này được quy định tại Điều 119 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
- Biện pháp cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định
Biện pháp này quy định tại Điều 120 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
- Biện pháp cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
Biện pháp này được quy định tại Điều 121 Luật Thi hành án dân sự. Theo đó, trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
Ngoài các biện pháp cưỡng chế trên, Pháp luật về thi hành án dân sự còn quy định cưỡng chế thi hành án dân sự trong một số trường hợp cụ thể như: Kê biên, xử lý tài sản cầm cố thế chấp; Kê biên tài sản đang do người thứ ba giữ; Kê biên vốn góp; Kê biên phương tiện giao thông; Kê biên hoa lợi; Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói...Các trường hợp cụ thể này đều thuộc một trong số các biện pháp cưỡng chế ở trên.
>> Tham khảo: Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là gì? Các biện pháp cưỡng chế