1. Mẫu Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
Dựa theo Thông tư 04/2023/TT-BTP, hướng dẫn về thực hiện quản lý hành chính và các biểu mẫu nghiệp vụ trong việc thực hiện án dân sự, Mẫu Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong việc thực hiện án dân sự có tên là Mẫu số A43-THADS, đã được đính kèm tại Phụ lục III của Thông tư 04/2023/TT-BTP.
Mẫu Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong việc thực hiện án dân sự, theo hướng dẫn của Thông tư 04/2023/TT-BTP, sẽ có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/10/2023. Từ ngày này, Thông tư 01/2016/TT-BTP sẽ không còn hiệu lực. Trường hợp các vụ án đã được thi hành một phần hoặc chưa hoàn thành trước ngày 01/10/2023, nhưng đã tuân thủ đúng các thủ tục thi hành án theo quy định, kết quả của quá trình thi hành án sẽ được công nhận. Các thủ tục thi hành án tiếp theo sẽ tiếp tục tuân thủ quy định tại Thông tư 04/2023/TT-BTP.
>> Tải ngay: Mẫu Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
Mẫu số: A43-THADS
(Ban hành kèm theo Thông tư số 04/2023/TT-BTP ngày 14/8/2023 của Bộ Tư pháp)
| TỔNG CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ tỉnh (thành phố) Z | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 123/QĐ-CTHADS | Địa danh, ngày 5 tháng 10 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
CHẤP HÀNH VIÊN
Căn cứ khoản 5 Điều 20, khoản 5 Điều 71, Điều 117 Luật Thi hành án dân sự;
Căn cứ Bản án, Quyết định số 123/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019 của Tòa án Nhân dân huyện A;
Căn cứ Quyết định thi hành án số 456/QĐ-CHADS ngày 25 tháng 8 năm 2019 của Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự;
Xét thấy Nguyễn Văn A (số CMND: 123456789) có điều kiện thi hành án nhưng không tự nguyện thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Cưỡng chế thi hành án đối với: Ông Nguyễn Văn A địa chỉ: 123 Đường ABC, Phường XYZ, Quận MNP, Thành phố QRS.
Chuyển giao quyền sử dụng đất cho: Bà Nguyễn Thị B (số CMND: 987654321) địa chỉ: 456 Đường DEF, Phường UVW, Quận XYZ, Thành phố MNO.
Quyền sử dụng đất gồm: Lô đất có diện tích 200m2 tại 123 Đường ABC, Phường XYZ, Quận MNP, Thành phố QRS được sử dụng để xây dựng nhà ở và các công trình phụ trợ liên quan theo quy định của pháp luật.
Điều 2. Người được thi hành án, người phải thi hành án và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký./.
| Nơi nhận: - Như Điều 2; - Viện kiểm sát nhân dân X; - Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai; - UBND xã, phường Y; - Kế toán nghiệp vụ; - Lưu: VT, HSTHA. | CHẤP HÀNH VIÊN |
2. Xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao được thực hiện thế nào?
Dựa trên quy định tại khoản 2 Điều 117 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, việc xử lý tài sản gắn liền với đất sẽ được thực hiện theo các quy định sau đây:
- Trong trường hợp tài sản gắn liền với đất được hình thành sau khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, Chấp hành viên có quyền yêu cầu người sở hữu tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất, và tài sản này phải được chuyển giao cho người thực hiện thi hành án. Nếu người sở hữu tài sản không tuân thủ yêu cầu này, Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế để tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất, trừ khi đương sự đã thỏa thuận khác. Chi phí liên quan đến biện pháp cưỡng chế sẽ do người sở hữu tài sản chịu trách nhiệm.
Nếu người sở hữu tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản, Chấp hành viên sẽ lập biên bản ghi rõ số lượng, loại hình, và tình trạng của từng loại tài sản, sau đó giao tài sản này cho tổ chức hoặc cá nhân có điều kiện để bảo quản, hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Chấp hành viên sẽ cũng thông báo địa điểm và thời gian để người sở hữu tài sản đến nhận lại tài sản. Trong trường hợp người sở hữu tài sản không đến nhận tài sản sau khi thông báo hết thời hạn, tài sản sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
- Nếu tài sản gắn liền với đất đã tồn tại trước khi có bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nhưng bản án hoặc quyết định thi hành không xác định rõ việc xử lý tài sản này, cơ quan thi hành án dân sự sẽ yêu cầu Toà án đã ra bản án hoặc quyết định giải thích rõ hơn về việc xử lý tài sản này hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Đánh giá thực trạng quy định về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự
Quyền sử dụng đất, trong phạm vi quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, có thể bị cưỡng chế buộc chuyển giao. Biện pháp cưỡng chế này áp dụng khi thực hiện bản án hoặc quyết định tuyên buộc người phải thi hành án phải chuyển giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án. Cưỡng chế cũng có thể chuyển giao quyền sử dụng đất từ người phải thi hành án sang người trúng đấu giá hoặc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất cho người được thi hành án để thực hiện việc thi hành án. Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất được áp dụng khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định hoặc theo quy định của pháp luật.
- Đã hết thời hạn mà Chấp hành viên đã ấn định cho người phải thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc người phải thi hành án đã có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án.
Quy định về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được ghi tại Điều 117 của Luật Thi hành án dân sự. Khoản này đáp ứng một số yêu cầu quan trọng như sự minh bạch, công khai và sự hợp tác giữa các cơ quan có liên quan trong quá trình cưỡng chế, bao gồm cơ quan quản lý đất đai cùng cấp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao. Quy định này cũng đã đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình thi hành án dân sự. Điều luật này cũng đã chia làm rõ cách xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao trong trường hợp tài sản này đã tồn tại trước hoặc sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Theo quy định, trong trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, Chấp hành viên đòi hỏi người sở hữu tài sản phải tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất và chuyển giao tài sản đó cho người được thi hành án. Nếu người sở hữu tài sản không tuân theo yêu cầu này, Chấp hành viên có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất, trừ khi có thỏa thuận khác. Chi phí của biện pháp cưỡng chế sẽ do người sở hữu tài sản chịu trách nhiệm. Quy định này dựa trên giả thuyết rằng nếu không có thỏa thuận khác, việc tồn tại của tài sản trên đất sau khi có bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật là không hợp pháp. Do đó, người sở hữu tài sản phải tự tháo dỡ hoặc chuyển tài sản hoặc phải chịu biện pháp cưỡng chế, và họ phải chịu chi phí của việc cưỡng chế này.
Trong trường hợp tài sản gắn liền với đất đã tồn tại trước khi có bản án hoặc quyết định sơ thẩm, nhưng bản án hoặc quyết định thi hành không xác định rõ việc xử lý tài sản này, cơ quan thi hành án dân sự sẽ yêu cầu Toà án đã ra bản án hoặc quyết định giải thích rõ hơn về việc xử lý tài sản này hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Trong trường hợp này, quyền và trách nhiệm quyết định về tài sản trên đất thuộc về Toà án, nhưng pháp luật hiện hành còn có một số hạn chế, ví dụ như việc chưa có sự cập nhật về quyền hưởng dụng hoặc quyền bề mặt theo Bộ luật dân sự để thiết lập các quy định tương ứng trong việc cưỡng chế thi hành án dân sự.
Bài viết liên quan:
- Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự hiện nay của Việt Nam?
- Biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là gì? Các biện pháp cưỡng chế
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về mẫu Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất trong thi hành án dân sự. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn qua số hotline Luật sư tư vấn pháp luật dân sự miễn phí trực tuyến 24/24: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!