Cưỡng chế THADS là hoạt động hết sức phức tạp, nó chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau; có những yếu tố có thể làm cho việc áp dụng biện pháp thi hành không thể thực hiện được. Trong đó có cả những yếu tố chủ quan cả những yếu tố khách quan, đó là:

1. Chất lượng các bản án, quyết định của Tòa án các cấp

Luật THADS quy định cơ quan THADS thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật gồm: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật phải được người phải THA, người được THA, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến bản án, quyết định nghiêm chỉnh thi hành và được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội; tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân tôn trọng.
Như vậy, cưỡng chế THADS trực tiếp phụ thuộc vào chất lượng bản án, quyết định của Tòa án. Thực tế cho thấy, đã có nhiều bản án, quyết định về tranh chấp dân sự của Tòa án không đảm bảo chất lượng, vẫn còn tình trạng án cải sửa, hủy nhiều lần. Chính từ chất lượng của bản án và nhiều vấn đề "tế nhị" trong đời sống xã hội do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, nên trong thực tế đã có rất nhiều vụ án cơ quan THA đã tổ chức cưỡng chế THA xong, nhưng cơ quan có thẩm quyền lại kháng nghị và tuyên hủy. Việc này dẫn đến tình trạng khắc phục hậu quả là khôi phục lại tình trạng ban đầu gặp vô cùng khó khăn mà cơ quan THA và CHV phải thực hiện.
Từ những phân tích trên cho thấy, chất lượng của bản án, quyết định của Tòa án là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến việc cưỡng chế THA. Đây là yêu cầu cấp bách của Nghị quyết 49 - NQ/TƯ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đòi hỏi phải khắc phục tình trạng hạn chế trên trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.

2. Hệ thống pháp luật Thi hành án dân sự

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan THA. Nhà nước đã xây dựng và ban hành Luật Luật THADS. Để thể chế cụ thể Luật THA Chính phủ, các bộ, ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS. Có thể liệt kê một số văn bản sau: Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản; Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS; Thông tư liên tịch số 14/2011/TTLT-BTP-BCA-BTC- TANDTC-VKSNDTC ngày 11/7/2011 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an - Bộ Tài chính - Tòa án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao hướng dẫn hoạt động của Ban Chỉ đạo THADS; Thông tư liên tịch số 184/2011/TTLT- BTC-BTP ngày 19/12/2011 của Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế THADS; Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của Bộ Tư pháp - Bộ Công an Quy định cụ thể việc phối hợp bảo vệ cưỡng chế trong THADS; Thông tư liên tịch số 02/201/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 1/01/201 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ lao động-thương binh và xã hội, Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải THA và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS...
Những văn bản trên là hệ thống Pháp luật THADS, bảo đảm cho quá trình về THA và cưỡng chế THA chính xác, kịp thời. Nên nó có ảnh hưởng rất lớn tới cưỡng chế THADS của cơ quan THA. Được thể hiện ở hai khía cạnh sau:
Một là, thực tế thời gian qua trong áp dụng hệ thống pháp luật về THA và cưỡng chế THADS, CHV cơ quan THA đã căn cứ và áp dụng chính xác các biện pháp cưỡng chế vào từng vụ án cụ thể, mang lại hiệu quả cao và an toàn trong quá trình thực hiện việc cưỡng chế, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được thi hành dứt điểm.
Hai là, tuy nhiên do một số văn bản quy phạm pháp luật chưa qui định cụ thể về chế tài cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế, hoặc có những qui định chưa cụ thể hóa được hết những vấn đề phát sinh trong thực tế đời sống xã hội, nên dẫn đến việc CHV khi mà có "tiêu cực" thì sẽ dẫn đến việc một cách tùy tiện.

3. Ý thức pháp luật của người phải THA và người được THA

Về mặt lý luận, ý thức pháp luật thể hiện nhận thức, thái độ, tình cảm của cá nhân đối với hành vi hợp pháp hay không hợp pháp. Người có ý thức pháp luật luôn biết tự điều chỉnh những hành vi của mình phù hợp với pháp luật, có niềm tin vào pháp luật, có thái độ dám đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật. Trong cưỡng chế THADS, nếu cả bên được THA, cả bên phải THA những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có ý thức pháp luật, tự nguyện chấp hành pháp luật thì công tác THA, công tác cưỡng chế THADS sẽ dễ dàng và thuận lợi. Tuy nhiên, thực tiễn cưỡng chế THADS cho thấy đa phần người phải THA có hành vi tiêu cực, không tự nguyện chấp hành do không hiểu biết pháp luật đã chống đối quyết liệt một cách mù quáng, như dùng vũ khí đe dọa đến tính mạng của thành viên tham gia cưỡng chế và bản thân họ, hoặc ngược lại hiểu biết pháp luật khá tường tận từ đó tìm cách lẩn tránh, nhiều trường hợp thuê luật sư, "thầy cò thầy kiện" tư vấn gây khó khăn cho CHV.
Để đảm bảo cưỡng chế thi hành dân sự đòi hỏi các bên đương sự phải có ý thức pháp luật, biết tự điều chỉnh hành vi của mình theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, ý thức pháp luật hình thành trong mỗi cá nhân nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nên để thay đổi được ý thức của mỗi con người là công việc khó khăn, lâu dài, không thể một sớm, một chiều. Vì đó, phải kiên trì giáo dục, thuyết phục ý thức pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của người dân đã trở thành chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Trong công tác THA, CHV phải biết thể chế chủ trương đó trên thực tế và trực tiếp với từng đối tượng THA và người dân tại nơi tổ chức THA và cưỡng chế THADS.

4. Năng lực, phẩm chất đội ngũ CHV, cán bộ THA

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Công việc thành công hay thất bại đều ở cán bộ. Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng".
Chấp hành viên và cán bộ làm công tác THADS là công chức được  Nhà nước giao quyền tổ chức thi hành các bản án, các quyết định là những người chấp pháp. Vì thế, chất lượng của đội ngũ này, đầu tiên phải có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng nghiệp vụ về tổ chức cưỡng chế THADS, họ là nhân tố hàng đầu quyết định sự thành bại trong cưỡng chế THADS. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết đạo đức cách mạng của người cán bộ trong bốn chữ: "Cần, Kiệm, Liêm, Chính". Vì vậy, Bộ Tư pháp đặc biệt quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, bổ nhiệm và các chế độ chính sách đối với CHV, thẩm tra viên, thư ký và cán bộ trực tiếp làm công tác THADS. Tuy nhiên, do nhiều lý do, nhất là do tác động của cơ chế thị trường một số CHV, cán bộ THA của một số cơ quan THA đã bị tha hóa, biến chất làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác THA.
Trong cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế THADS CHV, thư ký THA đã nâng cao được năng lực lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn có rất nhiều ưu điểm, đều phát huy được năng lực chuyên môn, năng động, tích cực, sáng tạo, quyết đoán trong công việc. Phần lớn CHV lựa chọn, quyết định áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật phù hợp trong cưỡng chế THA. Mặt khác, Thủ trưởng cơ quan THA và CHV còn làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy Đảng, phối kết hợp chặt chẽ với các ngành hữu quan và chính quyền cơ sở, huy động lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác THA.
Tuy nhiên, CHV, cán bộ THA còn bộc lộ một số hạn chế sau: Một số cán bộ chủ quan, phiến diện, lề lối làm việc cẩu thả, tài tử… dẫn đến lúng túng, thậm chí có sai lầm trong áp dụng quy phạm pháp luật hoặc lúng túng xử lý tình huống bất ngờ phát sinh trong thực tiễn tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Việc không khôn khéo, thiếu tầm nhìn, cứng nhắc, không đúng thời điểm có khi vô tình lại tạo thành "điểm nóng" ở địa phương, dẫn đến việc đương sự khiếu nại liên miên, khiếu nại vượt cấp.

5. Cơ chế phối hợp trong cưỡng chế THADS

Cưỡng chế THADS không thể chỉ do cơ quan THA độc lập tiến hành, có sự thành công hay không hiệu lực, hiệu quả của bản án trên thực tiễn thì phải phụ thuộc vào sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngay từ giai đoạn điều tra và xét xử. Thực tiễn cho thấy trong nhiều trường hợp không thể thi hành được bản án bởi ở giai đoạn điều tra, xét xử, cơ quan công an, Tòa án đã không tiến hành kê biên tài sản, để đối tượng tẩu tán hết tài sản, hoặc cũng không thể thi hành được bản án, quyết định của Tòa án khi chính bản án, quyết định này không có tính khả thi. Thực tế cho thấy ngay cả khi những yếu tố trên được đảm bảo, song giữa cơ quan THA và các cơ quan tổ chức hữu quan không có sự phối hợp nhịp nhàng, đề cao trách nhiệm trong THA, nhất là trong cưỡng chế THA thì cũng gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí không thực hiện được. Như vậy, để cưỡng chế THA đòi hỏi phải tăng cường trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời phải hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan THA với cơ quan tổ chức hữu quan bằng việc đổi mới quản lý Nhà nước về công tác THADS, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về mối quan hệ phối hợp, trách nhiệm tham gia và chế tài xử lý đối với những trường hợp không tham gia, cản trở, gây thiệt hại trong công tác THADS.
Sự phối hợp trong hoạt động cưỡng chế THADS, yêu cầu đặt ra là phải có sự kết hợp của các ngành và cả hệ thống chính trị, mà lực lượng chủ đạo là Công an, Chính quyền địa phương. Để có được sự phối hợp huy động được sức mạnh tổng hợp thì phải có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của cấp ủy cùng cấp, vì công tác cưỡng chế thường hay xảy ra sự phức tạp va chạm nhiều người, nên những người trực tiếp tham gia cưỡng chế và chỉ đạo tham gia cưỡng chế hay né tránh, ngại va chạm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê