Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật An toàn vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25/06/2015;

Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20/11/2014;

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo quy định tại Điều 38, Điều 41, Điều 48 và Điều 49 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015, người bị tai nạn lao động sẽ được hưởng các chế độ sau:

Nếu tai nạn không do lỗi của người lao động, thì họ được hưởng các khoản sau:

- Các khoản thuộc trác nhiệm của Người sử dụng lao động gồm:

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;

2. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trongthời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;

3. Bồi thường ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%.

Với trường hợp của bác, bác sẽ được công ty thanh toán chi phí y tế; trả đủ tiền lương trong thời gian nghỉ việc điều trị, phục hồi chức năng và một khoản bồi thường, cụ thể: Do bác bị suy giảm 58% khả năng lao động, đối chiếu với quy định trên, từ 5% - 10% bác được công ty bồi thường 1,5 tháng tiền lương. Sau mốc 10%, sẽ được cộng thêm 0,4 tháng nếu khả năng suy giảm lao động tăng 1%. Vậy tổng mức bồi thường công ty phải chi trả cho bác = 1,5 + (58 - 10)x0,4 = 20,7 tháng tiền lương.

Trong đó, tiền lương để làm cơ sở thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

- Các chế độ do cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả:

Theo thông tin bác cung cấp, bác bị suy giảm 58% khả năng lao động, theo quy định tại Điều 49 Luật An toàn vệ sinh lao động, bác sẽ được hưởng trợ cấp hàng tháng và trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ BHXH. Cụ thể:

1. Trợ cấp hàng tháng: Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.

Vậy, bác sẽ được trợ cấp bằng 30% mức lương cơ sở + (58 - 31)x2% mức lương cơ sở = 84% mức lương cơ sở

2. Trợ cấp tính theo số năm đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội: Từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động.

Như vậy, mức trợ cấp bác được hưởng có thể bằng: 0,5%x mức lương cơ sở + (15-1)x0,3%mức lương cơ sở.

Nếu tai nạn lao động do lỗi của người lao động:

Kể cả khi xảy ra tai nạn lao động do lỗi của người lao động, bản thân họ vẫn được hưởng các chế độ:

- Người sử dụng lao động thanh toán:

1. Được công ty thanh toán chi phí y tế, tiền lương như với trường hợp tai nạn không do lỗi của người lao động;

2. Mức bồi thường ít nhất bằng 40% mức bồi thường của trường hợp tai nạn lao động không do lỗi của người lao động.

- Quỹ bảo hiểm xã hội chi trả:

Theo quy định, bác vẫn sẽ được hưởng trợ cấp nếu xảy ra tai nạn lao động. Tuy nhiên, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật An toàn vệ sinh lao động thì bác sẽ không được giải quyết chế độ:

Điều 40. Trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động

1. Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:

a) Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;

c) Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê