Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tố tụng hình sự là lĩnh vực đặc thù, thể hiện quyền lực Nhà nước trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người phạm tội. Để bảo đảm cho quá trình này được thực hiện đúng pháp luật, khách quan và công bằng, Nhà nước quy định rõ về hệ thống các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự. Đây là những cơ quan được pháp luật trao quyền năng đặc biệt nhằm thực hiện chức năng buộc tội, gỡ tội, xét xử và thi hành bản án trong phạm vi quyền hạn của mình.

Việc xác định đúng các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong cả lý luận và thực tiễn. Nó không chỉ giúp đảm bảo tính hợp pháp của quá trình tố tụng, mà còn là cơ sở để xác định thẩm quyền, trách nhiệm và giới hạn quyền lực của từng cơ quan trong việc phát hiện, xử lý tội phạm. Đồng thời, quy định này cũng là cơ chế bảo đảm công lý, phòng ngừa lạm quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng.

1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là gì?

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số các hoạt động điều tra có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ giải quyết vụ án hình sự theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định góp phần phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 4 Luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây viết tắt là BLTTHS)  như sau: "Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra."

 Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 BLTTHS, "Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng" (sau đây viết tắt là CQTHTT) là các cơ quan nhà nước được pháp luật trao quyền lực tư pháp để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự, bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số hoạt động liên quan đến thi hành án hình sự. Vai trò của các cơ quan này mang tính quyết định đối với toàn bộ quá trình tố tụng. Chúng không chỉ đơn thuần là những chủ thể thực thi pháp luật, mà còn là những trụ cột hiến định có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Mục tiêu của hoạt động tố tụng hình sự là đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, khởi tố, điều tra và xử lý một cách công minh, kịp thời, không để lọt tội phạm và đặc biệt là không làm oan người vô tội.

2. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự theo Pháp luật?

 

Cơ quan điều tra là cơ quan tiến hành tố  có chức năng cốt lõi là tiến hành điều tra hình sự. Nhiệm vụ của CQĐT là áp dụng mọi biện pháp được BLTTHS cho phép để thu thập, củng cố chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án, làm rõ có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các yếu tố khác cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của CQĐT được quy định chi tiết trong Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2021

Hệ thống CQĐT được tổ chức chuyên môn hóa cao, phân chia theo ngành (Công an, Quân đội, VKS) và theo lĩnh vực tội phạm, cụ thể như sau:   

- Trong Công an nhân dân: Đây là lực lượng điều tra nòng cốt, đông đảo và xử lý phần lớn các vụ án hình sự trên cả nước.

Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT): Được tổ chức ở cấp Bộ Công an và cấp tỉnh. Cơ quan ANĐT chuyên trách điều tra các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, xâm phạm an ninh quốc gia (ví dụ: các tội phản quốc, hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gián điệp, khủng bố...).Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT): Được tổ chức ở cả ba cấp: Bộ Công an, cấp tỉnh và cấp huyện. Đây là lực lượng điều tra chủ lực, có thẩm quyền điều tra hầu hết các loại tội phạm còn lại, bao gồm tội phạm về trật tự xã hội (giết người, cướp tài sản), tội phạm về kinh tế, tham nhũng và chức vụ, tội phạm về ma túy, tội phạm về môi trường, và tội phạm sử dụng công nghệ cao.

- Trong Quân đội nhân dân: Hệ thống CQĐT trong quân đội được tổ chức để điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự (chủ yếu là các tội phạm do quân nhân tại ngũ thực hiện hoặc các tội phạm khác có liên quan đến bí mật quân sự, tài sản quân đội). Cơ quan An ninh điều tra: Được tổ chức ở Bộ Quốc phòng và cấp quân khu, có chức năng tương tự Cơ quan ANĐT trong Công an nhân dân nhưng trong phạm vi quân đội. Cơ quan điều tra hình sự: Được tổ chức ở Bộ Quốc phòng, cấp quân khu và cấp khu vực, có chức năng tương tự Cơ quan CSĐT nhưng trong phạm vi quân đội.

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao:Cơ quan điều tra của VKSND tối cao và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự trung ương: Đây là cơ quan điều tra đặc biệt, có thẩm quyền chuyên trách điều tra một số loại tội phạm hẹp nhưng có tính chất nhạy cảm: các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (ví dụ: dùng nhục hình, bức cung, làm sai lệch hồ sơ vụ án...) và các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong chính hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc CQĐT, Tòa án, VKS, cơ quan thi hành án.

Căn cứ khoản 1 Điều 35 Luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bao gồm: 

- Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;

- Các cơ quan của Hải quan;

- Các cơ quan của Kiểm lâm;

- Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;

- Các cơ quan của Kiểm ngư;

- Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

3. Quy định pháp luật về Tòa án

3.1. Cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án

Tòa án là một trong những cơ quan do Quốc hội – Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất lập ra chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo về hoạt động của mình tại các kỳ họp của Quốc hội. Do vậy các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước quy định tại Hiến pháp năm 2013 phải được quán triệt trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, trong đó nguyên tắc tập trung quyền lực và nguyên tắc độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử là nguyên tắc quan trọng. Ở nước ta hiện nay Tòa án nhân dân tối cao quản lý toàn diện các tòa án địa phương.

3.2. Chức năng và nhiệm vụ của Tòa án trong tố tụng hình sự

Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng giữ vị trí trung tâm trong hệ thống tư pháp hình sự. Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Chức năng cơ bản và duy nhất của Tòa án trong tố tụng hình sự là xét xử, đưa ra phán quyết cuối cùng về việc một người hoặc pháp nhân có phạm tội hay không, và nếu có thì áp dụng hình phạt tương xứng. Mọi hoạt động của CQĐT và VKS ở các giai đoạn trước đều là hoạt động chuẩn bị, cung cấp tài liệu, chứng cứ cho hoạt động xét xử của Tòa án. Bản án, quyết định của Tòa án khi đã có hiệu lực pháp luật có giá trị bắt buộc thi hành đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân.   

Hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân được thiết lập theo thẩm quyền xét xử, bao gồm các cấp sau :   

Tòa án nhân dân Tối cao: Là cơ quan xét xử cao nhất, có nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án cấp dưới; tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

Tòa án nhân dân Cấp cao: Có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án cấp tỉnh, cấp huyện.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh: (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự phức tạp hoặc theo quy định của pháp luật, và xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Tòa án nhân dân cấp huyện: (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương) là cấp xét xử sơ thẩm chủ yếu các vụ án hình sự.

Các Tòa án quân sự: Có hệ thống tổ chức tương ứng để xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của mình.

4. Quy định pháp luật về Viện kiểm sát

VKS là một thiết chế hiến định đặc thù trong bộ máy nhà nước Việt Nam, thực hiện hai chức năng song song: (1) thực hành quyền công tố và (2) kiểm sát hoạt động tư pháp. Hai chức năng này vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ hữu cơ, bổ trợ cho nhau, tạo nên vị thế pháp lý đặc biệt của VKS trong tố tụng hình sự.   

Thực hành quyền công tố: Là việc VKS nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người có hành vi phạm tội. Quyền công tố được thực hiện xuyên suốt từ khi khởi tố vụ án cho đến khi thi hành án, thể hiện qua các hoạt động như: phê chuẩn hoặc hủy bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT, quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án, bảo vệ cáo trạng và tranh luận tại phiên tòa, kháng nghị các bản án, quyết định của Tòa án nếu thấy có vi phạm.

Kiểm sát hoạt động tư pháp: Là việc VKS giám sát sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp (bao gồm hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án, và các hoạt động tư pháp khác). Mục đích của chức năng này là đảm bảo pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp.

Hệ thống tổ chức của VKS được thiết lập theo nguyên tắc tập trung, thống nhất, ngành dọc, phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án, bao gồm bốn cấp:   

  • Viện kiểm sát nhân dân Tối cao: Là cấp cao nhất, lãnh đạo, chỉ đạo toàn ngành.
  • Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao: Có 3 VKSND cấp cao, có nhiệm vụ thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao (chủ yếu là xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm).
  • Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh: (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương).
  • Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện: (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
  • Hệ thống Viện kiểm sát quân sự: Được tổ chức tương ứng với các cấp Tòa án quân sự.

Kết luận 

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án) và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; Các cơ quan của Hải quan; Các cơ quan của Kiểm lâm; Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển; Các cơ quan của Kiểm ngư; Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự).

Quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.