- 1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- 2. Thời hạn chuẩn bị xét xử
- 3. Nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án
- 3.1 Việc nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án
- 3.2 Nghiên cứu hồ sơ vụ án
- 4. Việc áp dụng, hủy bỏ hay thay đổi các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
- 5. Những quyết định của Tòa án khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- 5.1 Quyết định đưa vụ án hình sự
- 5.2 Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung
- 5.3 Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án
1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bước đầu tiên của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó, Tòa án có thẩm quyền phải chuẩn bị và tiến hành các hoạt động cần thiết để bảo đảm cho việc xét xử được tuân thủ nghiêm chỉnh và đúng pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.
Việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được bắt đầu từ khi Tòa án có thẩm quyền nhận hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng từ Viện kiểm sát chuyển sang. Sau khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm thực hiện các công việc chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Tòa án không chỉ thực hiện các công việc để đưa vụ án ra xét xử sao cho chu đáo, nghiêm túc, mà còn phải giải quyết những tồn tại của vụ án hay các tình huống phát sinh, thay đổi để từ đó đưa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không đưa vụ án ra xét xử.
2. Thời hạn chuẩn bị xét xử
Vì trong quy trình tố tụng hình sự, Toàn án là cơ quan tiếp cận với hồ sơ vụ án muộn nhất, tòa án sẽ không tiếp xúc với vụ án ngay từ ban đầu mà chỉ tiếp xúc với hồ sơ vụ án khi mà Viện kiểm sát chuyển hồ sơ, do đó toàn bộ công việc xét xử của Tòa án đều chuẩn bị trên cơ sở những tài liệu có trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển sang nên việc nghiên cứu kỹ lưỡng và đầy đủ hồ sơ, tài liệu là một công việc rất cẩn trọng và cần thiết, tùy thuộc vào tính chất, mức độ quan trọng, sự phức tạp của vụ án mà pháp luật đã quy định khoảng thời gian phù hợp, khoảng thời gian này gọi là thời hạn chuẩn bị xét xử.
Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử như sau:
- Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án.
- Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa, trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thi Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
3. Nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án
3.1 Việc nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án
Điều 276 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trang và thụ lý vụ án như sau:
- Khi Viện kiểm sát giao bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo (nếu có), Tòa án phải kiểm tra và xử lý:
- Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản cáo trạng đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
- Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản cáo trạng chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can.
- Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 215 và đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.
3.2 Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án nhằm mục đích bảo đảm việc ra các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có căn cứ và đúng thời hạn, nên việc yêu cầu nghiên cứu hồ sơ vụ án là công việc cần thiết và thường xuyên của Tòa án. Khi nghiên cứ hồ sơ, Tòa án cần chú ý đến về đề làm sáng tỏ những nội dung sau đây:
- Xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án để có thể đảm bảo cho việc xét xử đúng với thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tào phải xác định vụ án này có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không. Nếu qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và xác định được thẩm quyền của vụ án này không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì đề nghị với Chánh án Tòa án xem xét chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết còn nếu hồ sơ thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì tiếp tục công việc chuẩn bị xét xử.
- Kiếm tra và đánh giá các chứng cứ có trang vụ án: Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu thấy vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp mình xét xử thì Thẩm phán phải xem xét những chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hay không.
- Sau khi đã nghiên cứu đầy đủ hồ sơ, xác định không cần yêu cầu phải bổ sung thêm các tài liệu chứng cứ gì thêm, thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chuẩn bị cho phiên tòa lên kế hoạch xét hỏi, điều hành tranh luận, dự kiến các tình huống phát sinh tại phiên tòa và phương án giải quyết. Việc chuẩn bị cho phiên tòa còn bao gồm việc chuẩn bị địa điểm, cơ sở vật chất, các hoạt động phối hợp với cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, việc tống đạt các văn bản tài liệu, giấy triệu tập, giấy mời các cơ quan, tổ chức cá nhân liên quan tham dự phiên tòa...
4. Việc áp dụng, hủy bỏ hay thay đổi các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải xem xét ngay các vấn đề liên quan đến việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn. Điều 278 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, cụ thể được xác định như sau:
- Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định.
- Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Khoản 1 Điều 277 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tam giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
5. Những quyết định của Tòa án khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
5.1 Quyết định đưa vụ án hình sự
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án ra quyết định đưa vụ án xét xử khi xác định vụ án đó thuộc thẩm quyền của Tòa án, khẳng định có đủ căn cứ để đưa vụ án ra xét xử và đồng thời là cơ sở để giải quyết những vấn đề cần thiết cho việc mở phiên tòa.
5.2 Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một trong các quyết định của Tòa án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung như sau:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nếu có căn cứ sẽ ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
- Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm;
- Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
- Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
- Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bo sung thi Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
- Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
- Nếu kết quả điều tra bổ sung dân tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thống báo cho Tòa án biết trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định. Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.
- Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
5.3 Quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án
- Quyết định tạm đình chỉ vụ án
Tạm đình chỉ vụ án là việc Thẩm phán (được phân công chủ tọa phiên tòa) quyết định tạm thời chưa quyết định đưa vụ án ra xét xử. Điều 281 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định tạm đình chỉ vụ án như sau:
+ Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
- Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật tố tụng hình năm 2015 quy định căn cứ tạm đình chỉ điều tra;
- Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử, trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc truy nã bị can;
- Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị
+ Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
+ Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về việc kết thúc điều tra.
- Quyết định đình chỉ vụ án
Điều 282 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc đình chỉ vụ án như sau:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp như sau:
+ Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 về việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 về căn cứ không khởi tố vụ án hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
+ Viện kiểm sát nút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa;
+ Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo;
+ Đình chỉ vụ án theo đề nghị rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự thì Viện kiểm sát nút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.
+ Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về văn bản tố tụng.
- Phục hồi điều tra
Khi những căn cứ tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án không còn và trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Tòa ản phải ra quyết định phục hồi vụ án Điều 283 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định phục hồi vụ án như sau:
+ Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án ra quyết định phục hồi vụ án. Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi.
+ Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về văn bản tố tụng.
+ Khi phục hồi vụ án, Tòa án có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trường hợp có căn cứ theo quy định cảu Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tạm giam thù thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.
Luật Minh Khuê