Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử. Căn cứ Điều 1Luật Giao dịch điện tử năm 2005, giao dịch điện tử có thể được sử dụng trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, không phải mọi giao dịch điện tử đều phát sinh nghĩa vụ nộp thuế. Căn cứ Luật Quản lý thuế năm 2006(sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014, 2016) và các Luật thuế liên quan, nghĩa vụ đóng thuế chỉ áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân khi có phát sinh nghĩa vụ thuế từ các hoạt động thương mại hoặc hoạt động làm công, mua/bán tài sản (mà không phân biệt giao dịch thương mại theo phương thức truyền thống hay theo phương thức điện tử). Do đó, giao dịch điện tử trong phạm vi hoạt động của các cơ quan nhà nước hay các giao dịch dân sự không có mục đích sinh lợi sẽ không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế.

Căn cứ Khoản 7 Điều 27 và Khoản 7 Điều 37 Nghị định số 52/2013/NĐ-CPvề Thương mại điện tử do Chính phủ ban hành ngày 16/5/2013 quy định thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website thương mại điện tử bán hàng hay người bán trên sàn giao dịch thương mại điện tử có trách nhiệm phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Việc kê khai thuế, cách thức thu thuế, mức thuế, loại thuế,… sẽ được áp dụng theo các quy định pháp luật hiện hành về thuế và quản lý thuế. Như vậy theo quy định hiện hành, ở Việt Nam vẫn chưa có một chính sách thuế và quy trình quản lý thuế riêng cho hoạt động giao dịch điện tử nói chung cũng như đối với giao dịch thương mại, kinh doanh bằng phương tiện điện tử nói riêng, mà vẫn được áp dụng giống như hoạt động kinh doanh, thương mại theo phương thức truyền thống. Tùy thuộc vào đối tượng và phạm vi trong các giao dịch điện tử, mà các tổ chức, cá nhân khi thực hiện giao dịch phải đóng các loại thuế sau:

1. Đối với thuế Giá trị gia tăng:

Căn cứ Điều 4, Điều 5, khoản 3 Điều 8Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2015,2016) thì các tổ chức, cá nhân sẽ phải nộp thuế giá trị gia tăng nếu có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (mà không phân biệt phương thức truyền thống hay phương thức điện tử). Đối với hàng hóa, dịch vụ trong các giao dịch điện tử sẽ chịu mức thuế suất 10%. Tuy vậy, nếu hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống thì không phải chịu thuế giá trị gia tăng.

2. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp:

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008(sửa đổi, bổ sung 2013, 2014) thì thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (không phân biệt phương thức truyền thống hay phương thức điện tử) và thu nhập khác. Do vậy, nếu thông qua các giao dịch điện tử mà tổ chức, cá nhân có thu nhập thì tổ chức, cá nhân đó phải chịu thuế. Căn cứ Điều 10 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008, kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp khi thực hiện các giao dịch điện tử trong kinh doanh thương mại là 20%.

3. Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt

Căn cứ Điều 4 Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2016) thì nếu cá nhân, tổ chức sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, không kể theo phương thức nào đều phải nộp thuế.

4. Đối với thuế thu nhập cá nhân:

Căn cứ Điều 2, Khoản 1 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014), đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (không phân biệt theo phương thức truyền thống hay phương thức điện tử) thì phải nộp thuế. Tại Điều 10 Luật này, thì đối với cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh. Trong đó thuế suất được ghi nhận cụ thể như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa: 0,5%; Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 2%. (Riêng hoạt động cho thuê tài sản, đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, đại lý bán hàng đa cấp: 5%); Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 1,5%; Hoạt động kinh doanh khác: 1%.

5. Đối với thuế xuất khẩu

Đối với các giao dịch điện tử, trong đó có đối tượng là hàng hoá xuất, nhập khẩu, thì cần phải thực hiện các nghiệp vụ kê khai hải quan, qua đó, cơ quan hải quan thực hiện thu thuế theo quy định của pháp luật. Việc khai thuế, tính thuế được thực hiện trên tờ khai hải quan và nộp thuế theo trình tự, thủ tục quy định tạiThông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính. Đối với các cá nhân thực hiện việc mua hàng qua các trang mạng quốc tế (ví dụ ebay, amazon...) thì hàng hoá được chuyển về vẫn phải thực hiện quản lý thuế tại hệ thống hải quan. Theo đó, các đại lý, nhất là đại lý phân phối độc quyền của các hãng nước ngoài, các doanh nghiệp làm thủ tục chuyển phát quốc tế phải thực hiện nghĩa vụ thuế trước khi làm thủ tục thông quan hàng nhập khẩu, kể cả việc nhập khẩu thực hiện theo thủ tục phi mậu dịch.

6. Đối với thuế bảo vệ môi trường:

Đối với các giao dịch điện tử, trong đó có đối tượng là hàng hoá thuộc diện phải nộp thuế bảo vệ môi trường thì các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bằng phương tiện điện tử cũng phải nộp thuế (Khoản 1 Điều 5Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010).

7. Bên cạnh đó, đối với các giao dịch điện tử ngoài biên giới lãnh thổ, tính đến đầu năm 2015, Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 71 nước và vùng lãnh thổ (trong đó có Điều khoản về trao đổi thông tin). Đây là khung pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện trao đổi thông tin với các nước phục vụ công tác quản lý thuế đối với các giao dịch điện tử ngoài biên giới Việt Nam.

Trên đây là giải đáp của công ty Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Thuế - Công ty luật Minh Khuê