1. Giới thiệu

Theo Luật Hợp tác xã năm 2023, quy trình giải thể hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được đề ra một cách nghiêm ngặt nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên liên quan. Luật này cũng cụ thể hóa những hành vi bị cấm trong quá trình giải thể nhằm ngăn chặn việc vi phạm pháp luật và giảm thiểu tổn thất cho các bên liên quan.

Những biện pháp này là cực kỳ quan trọng để duy trì tính công bằng và minh bạch trong quá trình giải thể hợp tác xã, từ đó thể hiện tinh thần công bằng và trách nhiệm trong hệ thống hợp tác xã.

 

2. Các hành vi bị cấm khi giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Theo quy định của Điều 100 trong Luật Hợp tác xã năm 2023, sau khi có nghị quyết về việc giải thể hoặc quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, hoặc từ quyết định của Tòa án, một loạt các hành vi bị cấm được áp đặt đối với các bên liên quan như người đại diện theo pháp luật, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên khác của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), thành viên của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Các hoạt động bị cấm này bao gồm:

- Cất giấu, phân tán tài sản: Hành vi này nhằm mục đích che đậy tài sản của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, gây ra tổn thất cho các bên như chủ nợ và thành viên liên quan.

- Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ: Điều này khiến cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không thể thu hồi được các khoản nợ, dẫn đến tổn thất về tài chính.

- Chuyển đổi nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã: Hành vi này vi phạm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ nợ, gây tổn thất cho các chủ nợ không được bảo đảm bằng tài sản.

- Ký kết hợp đồng mới, trừ trường hợp để thực hiện giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã: Điều này có thể tạo ra thêm các khoản nợ, nghĩa vụ cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, gây khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ hiện có.

- Cầm cố, thế chấp, tặng, hoặc cho thuê tài sản: Hành động này có thể khiến cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không còn tài sản để thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ, gây tổn thất cho các bên liên quan.

- Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực: Hành vi này có thể vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, gây tổn thất cho bên kia hợp đồng.

- Huy động vốn dưới mọi hình thức: Hành vi này có thể khiến cho các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã huy động vốn một cách không hợp pháp, ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ.

3. Hậu quả của việc vi phạm các hành vi bị cấm khi giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Người vi phạm sẽ phải chịu xử phạt vi phạm hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm. Trong trường hợp gây thiệt hại, họ cũng sẽ phải bồi thường cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của tuân thủ luật pháp trong quá trình giải thể, đảm bảo rằng mọi hành động đều tuân thủ các quy định và nguyên tắc pháp lý.

Về hành chính:

Dựa theo quy định của Điều 72 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP liên quan đến vi phạm hoạt động doanh nghiệp và hợp tác xã sau khi đã quyết định mở thủ tục phá sản, các mức phạt được quy định như sau:

- Các doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu sau khi quyết định mở thủ tục phá sản, họ không thông báo cho quản tài viên hoặc không tiến hành quản lý và thanh lý tài sản trước khi thực hiện một trong những hành động sau:

+ Liên quan đến vay mượn, thế chấp, bán, hoặc cho thuê tài sản; bán cổ phần; hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản;

+ Chấm dứt các hợp đồng hiện có;

+ Không thanh toán các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản; hoặc không trả lương cho nhân viên trong doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nếu doanh nghiệp, hợp tác xã có một trong những hành vi sau, họ sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng:

+ Giấu giếm, tẩu tán, hoặc tặng cho tài sản;

+ Thanh toán các khoản nợ không có sự đảm bảo, trừ trường hợp được quy định trong Điều 49, khoản 1, điểm c của Luật Phá sản;

+ Từ bỏ quyền đòi nợ;

+ Chuyển đổi các khoản nợ không có sự đảm bảo thành nợ có sự đảm bảo hoặc phần nợ có sự đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Biện pháp khắc phục hậu quả có thể bao gồm buộc phải khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi vi phạm như được quy định trong khoản 2 của Điều này.

Về hình sự:

Người phạm tội thực hiện những hành vi bị cấm khi giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với mục đích trục lợi cá nhân có thể liên quan đến một số tội danh sau:

Vi phạm không thi hành án theo Điều 379 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi và bổ sung năm 2017, sẽ bị xử lý như sau:

- Người có thẩm quyền cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này nhưng vẫn vi phạm;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án trốn tránh;

+ Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thực hiện được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

- Nếu phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thực hiện được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

- Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thực hiện được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

- Người phạm tội cũng sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Tội cản trở việc thi hành án theo Điều 381 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi và bổ sung năm 2017, sẽ bị xử lý như sau:

- Người sử dụng lợi thế của chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án trong một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án trốn tránh;

+ Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thực hiện được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

+ Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

+ Phạm tội 02 lần trở lên;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm;

+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thực hiện được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 200.000.000 đồng trở lên;

+ Gây thiệt hại 200.000.000 đồng trở lên.

- Người phạm tội cũng sẽ bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định trong khoảng thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Ngoài ra là các tội xâm phạm sở hữu như lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay những tội phạm tham nhũng như tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản…

Về dân sự:

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 và được hướng dẫn bởi Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, cụ thể:

- Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

- Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

- Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Bài viết liên quan: Quy định mới về thành lập hợp tác xã và giải thể hợp tác xã?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê về: Các hành vi bị cấm khi giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!