1. Khi nào doanh nghiệp bị coi là phá sản?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật Phá sản 2014, phá sản được định nghĩa là tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã, và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, hợp tác xã được xem là mất khả năng thanh toán khi không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán, như quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật Phá sản 2014.

Ngoài ra, quy định rõ ràng rằng doanh nghiệp không thể tự tuyên bố phá sản mà phải tuân theo các thủ tục phá sản để Tòa án có thẩm quyền ra quyết định mới có thể coi là phá sản. Chi tiết về thẩm quyền giải quyết phá sản được quy định tại Điều 8 của Luật Phá sản 2014 như sau:

- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sẽ có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó và thuộc một trong những trường hợp sau:

  + Phá sản liên quan đến tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài;

  + Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có chi nhánh, văn phòng đại diện ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

  + Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có bất động sản ở nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau;

  + Phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc.

- Tòa án nhân dân cấp huyện sẽ có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc các trường hợp nêu trên.

 

2. Quy định về xử lý khoản nợ có bảo đảm khi doanh nghiệp phá sản

Theo quy định tại Điều 53 của Luật Phá sản 2014, sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, và thanh lý tài sản đều phải đề xuất Thẩm phán về cách xử lý khoản nợ có bảo đảm, đã tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 3 của Điều 41 Luật Phá sản 2014. Thẩm phán sẽ xem xét và thực hiện xử lý theo các quy định chi tiết như sau:

- Nếu tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh, việc xử lý đối với tài sản bảo đảm sẽ tuân theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ.

- Trong trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh, việc xử lý sẽ theo thời hạn quy định trong hợp đồng đối với những hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với những hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn, trước khi tuyên bố phá sản, Tòa án nhân dân sẽ đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm.

- Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc giảm đáng kể về giá trị, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, và thanh lý tài sản đều có trách nhiệm đề nghị Thẩm phán xử lý ngay tài sản bảo đảm đó.

Quá trình xử lý tài sản bảo đảm sẽ diễn ra theo các quy định cụ thể như sau:

- Đối với những khoản nợ có bảo đảm đã được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chúng sẽ được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó.

- Trong trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ số nợ, phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ, sự chênh lệch sẽ được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

 

3. Khi doanh nghiệp phá sản thì thứ tự phân chia tài sản như thế nào?

Hiện nay, dựa trên quy định tại Điều 54 của Luật Phá sản 2014, khi Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ được phân chia theo thứ tự ưu tiên như sau:

- Chi phí phá sản.

- Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, và các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết.

- Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã.

- Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán nợ.

Lưu ý:

- Nếu sau khi thanh toán đủ các khoản nêu trên mà vẫn còn giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, phần còn lại sẽ được phân chia cho các đối tượng sau theo thứ tự ưu tiên:

  + Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;

  + Chủ doanh nghiệp tư nhân;

  + Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

  + Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;

  + Thành viên của Công ty hợp danh.

- Trong trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán, từng đối tượng trong cùng một thứ tự ưu tiên sẽ được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

 

4. Nguy cơ hợp đồng bảo đảm bị vô hiệu khi doanh nghiệp bị nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản hiện đang đối mặt với một nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến việc cầm cố và thế chấp của ngân hàng. Điều này phản ánh trong quy định tại Điều 54 của Luật Phá sản 2014, khi Thẩm phán quyết định tuyên bố phá sản, các hợp đồng, giao dịch bảo đảm mà doanh nghiệp đã ký trong thời kỳ 06 tháng trước ngày Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản sẽ bị coi là vô hiệu nếu Tòa án xác định rằng chúng thuộc một trong các trường hợp sau:

(i) Chuyển đổi khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

(ii) Giao dịch ngoài mục đích hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp, hợp tác xã;

(iii) Giao dịch có mục đích khác với việc bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thực tế, trường hợp (i) có thể xảy ra trong quá trình nhận tín dụng từ ngân hàng. Ban đầu, khi cung cấp tín dụng, ngân hàng có thể không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài sản đảm bảo, dựa trên uy tín hoặc điểm tín dụng cao của doanh nghiệp (khi đó khoản vay được coi là không có bảo đảm). Tuy nhiên, khi tình hình tài chính của doanh nghiệp giảm sút hoặc nếu doanh nghiệp vi phạm điều kiện và cam kết tín dụng, ngân hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp biện pháp đảm bảo thông qua việc ký kết thêm các hợp đồng bảo đảm. Khi đó, khoản nợ không có bảo đảm sẽ trở thành nợ có hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản. Mặc dù đây là một thực tế trong kinh doanh ngân hàng để xử lý rủi ro tín dụng, nhưng theo Luật Phá sản, các hợp đồng bảo đảm này có nguy cơ trở nên vô hiệu nếu được ký kết trong thời kỳ 06 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản.

Đối với trường hợp (ii) và (iii), cũng có khả năng xảy ra trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là khi doanh nghiệp ký kết các hợp đồng bảo đảm trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án quyết định mở thủ tục phá sản. Trong tình huống này, doanh nghiệp có thể sử dụng tài sản bảo đảm để bảo đảm cho vay vốn của một bên khác (không phải là vay của chính doanh nghiệp). Hành động này, tuy phổ biến trong ngành ngân hàng, nhưng có thể bị coi là không phục vụ cho mục đích kinh doanh chính của doanh nghiệp bảo đảm. Cũng có thể xem xét như là hành động nhằm tẩu tán tài sản của doanh nghiệp. Do đó, các hợp đồng bảo đảm ký kết trong thời kỳ này có thể bị vô hiệu.

Ngân hàng cũng cần lưu ý rằng, đối với 03 trường hợp nêu trên, thời hạn để xem xét các hợp đồng và giao dịch vô hiệu sẽ được mở rộng đáng kể nếu bên bảo đảm và bên cấp tín dụng có quan hệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Thời hạn này sẽ là 18 tháng trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, một khoảng thời gian đáng kể và nguy hiểm đối với ngân hàng. Khi ký kết hợp đồng bảo đảm, ngân hàng khó có thể nhận biết được nếu bên bảo đảm đang hoặc có thể sắp rơi vào tình trạng phá sản. Hơn nữa, ngân hàng cũng khó có điều kiện hoặc thẩm định tình hình tài chính của bên bảo đảm đến mức độ sâu rộng, khi bên bảo đảm không phải là đối tác tín dụng chính của ngân hàng.

Do đó, để giảm thiểu rủi ro, khi thực hiện các thủ tục chuyển đổi vay từ không có bảo đảm sang có tài sản đảm bảo, ngân hàng cần thận trọng thẩm định tình hình tài chính của bên vay. Khi phát hiện các biến động gây ra tình trạng bên vay phải bổ sung thêm tài sản đảm bảo, ngân hàng nên ưu tiên thu hồi nợ trước hạn và/hoặc xử lý các tài sản đảm bảo đã nhận trước đó để thu hồi nợ. Đối với trường hợp (ii) và (iii), ngân hàng cần hạn chế nhận tài sản đảm bảo từ bên thứ ba, đặc biệt là từ doanh nghiệp công cộng, để đảm bảo ưu tiên nhận tài sản đảm bảo từ chính bên vay. Khi nhận tài sản đảm bảo từ doanh nghiệp thứ ba, ngân hàng cần áp dụng thêm đánh giá năng lực tài chính của bên thứ ba, thay vì chỉ đánh giá năng lực tài chính của bên vay chính. Hành động này giúp hạn chế nguy cơ doanh nghiệp bị phá sản khi đang cầm cố tài sản của mình cho một bên khác vay vốn. Tuy nhiên, rủi ro không tránh khỏi và hầu hết không có biện pháp giảm thiểu rủi ro, vì ngân hàng khó có thể thuyết phục hoặc giải thích việc doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình để bảo đảm cho một bên khác vay vốn là giao dịch phục vụ cho mục đích kinh doanh chính của doanh nghiệp đảm bảo, đặc biệt khi có nguy cơ các hợp đồng bảo đảm trở nên vô hiệu nếu ký kết trong thời kỳ "chết" trước ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản như đã phân tích trên.

Bài viết liên quan: Phá sản doanh nghiệp là gì? Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi nào?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!