1. Khi doanh nghiệp nợ lương mình người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không?

Theo quy định tại Điều 5 của Luật Phá sản 2014, việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ tuân theo các điều kiện sau đây:

- Chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đã qua thời hạn 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

- Người lao động, công đoàn cơ sở, và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tại những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đã qua thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương hoặc các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

- Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, và thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

- Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán. Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi công ty cổ phần mất khả năng thanh toán theo quy định trong Điều lệ công ty.

- Thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên trong liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Theo quy định trên, người lao động, công đoàn cơ sở và công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi đã qua thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Điều này có nghĩa là nếu một doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thanh toán lương và các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động, công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sau khi đã qua thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động trong trường hợp doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không thể thanh toán lương và các khoản nợ khác đúng hạn. Bằng cách nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, người lao động và các công đoàn có thể đòi lại quyền lợi của mình qua quá trình phá sản và phân chia tài sản.

Điều này tạo ra một cơ chế bảo vệ pháp lý cho người lao động và đảm bảo rằng họ không bị thiệt hại khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán. Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ mở ra cơ hội để người lao động được tham gia vào quá trình xử lý nợ và chia tài sản, nhằm đảm bảo rằng họ nhận được phần công bằng trong quá trình phá sản.

Đồng thời, quy định này cũng khuyến khích doanh nghiệp và hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng hạn đối với người lao động. Nếu không, họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán và mở thủ tục phá sản, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh của mình.

 

2. Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ở đâu?

Theo quy định tại Điều 8 của Luật Phá sản năm 2014, thẩm quyền giải quyết vụ phá sản thuộc về Tòa án nhân dân.

- Cụ thể, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản đối với các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp, và các hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký hợp tác xã tại tỉnh đó. Trong trường hợp sau đây, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản:

+ Trường hợp vụ việc phá sản liên quan đến tài sản ở nước ngoài hoặc có người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.

+ Trường hợp doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mất khả năng thanh toán và có chi nhánh, văn phòng đại diện tại nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau.

+ Trường hợp doanh nghiệp hoặc hợp tác xã mất khả năng thanh toán và có bất động sản tại nhiều huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh khác nhau.

+ Trường hợp vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, nhưng do tính chất phức tạp của vụ việc, Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên để giải quyết.

- Ngoài ra, Tòa án nhân dân cấp huyện cũng có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 của Điều này.

- Để hướng dẫn việc thi hành Điều này, Tòa án nhân dân tối cao sẽ cung cấp chỉ đạo.

Theo quy định ban đầu, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản đối với các doanh nghiệp và hợp tác xã có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 của Điều 8 Luật Phá sản năm 2014. Điều này đảm bảo rằng tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những vụ phá sản cụ thể và gần gũi với địa phương của họ.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Điều này còn được hướng dẫn cụ thể bởi hai Nghị quyết là Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP. Những Nghị quyết này sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc thực hiện Điều 8 Luật Phá sản năm 2014, đảm bảo tính nhất quán và đồng đều trong quá trình giải quyết vụ phá sản.

Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP đề cập đến việc hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Phá sản năm 2014. Nó tập trung vào việc chỉ định nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong quá trình giải quyết vụ phá sản. Nghị quyết này cũng quy định về quy trình, thủ tục và trình tự giải quyết các vụ việc liên quan đến phá sản.

Nghị quyết số 03/2016/NQ-HĐTP cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc xác định quyền lợi của các bên liên quan trong vụ phá sản, quyền và nghĩa vụ của người được bổ nhiệm làm quản lý phá sản, và quyền và nghĩa vụ của người được bổ nhiệm làm người giám sát phá sản. Nghị quyết này cũng đề cập đến việc xác định và xử lý các vụ việc liên quan đến tài sản nước ngoài trong quá trình giải quyết vụ phá sản.

Tổng cộng, Điều 8 Luật Phá sản năm 2014 và các Nghị quyết liên quan đã thiết lập một khung pháp lý rõ ràng và chi tiết để xác định thẩm quyền và hướng dẫn giải quyết vụ phá sản. Điều này giúp đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả trong quá trình xử lý các vụ việc phá sản tại Việt Nam.

 

3. Có được từ chối cung cấp tài liệu liên quan đến vụ việc phá sản không?

Luật Phá sản năm 2014, trong Điều 7, quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu và chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc phá sản như sau:

- Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý và lưu giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc phá sản có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, chứng cứ đó trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu từ chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý hoặc thanh lý tài sản.

- Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không thể cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 1, họ phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nếu hành vi không cung cấp tài liệu, chứng cứ mà không có lý do chính đáng là cố ý, thì họ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 7 của Luật Phá sản năm 2014, cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý và lưu giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc phá sản phải cung cấp đầy đủ và kịp thời tài liệu, chứng cứ đó trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu từ chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý hoặc thanh lý tài sản.

Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ này đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản. Các bên liên quan phải đáp ứng yêu cầu của những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền để hỗ trợ việc xác minh, đánh giá và đưa ra quyết định về vụ việc phá sản một cách chính xác và đúng luật.

Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức không thể cung cấp tài liệu, chứng cứ theo quy định trên, họ phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Nếu vi phạm này là cố ý, tức là cố ý không cung cấp tài liệu, chứng cứ mà không có lý do chính đáng, thì họ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Sự tuân thủ quy định về cung cấp tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ phá sản là rất quan trọng để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và đáng tin cậy của quyết định pháp lý. Việc xử lý nghiêm túc các trường hợp vi phạm giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và đảm bảo sự công khai và minh bạch trong quá trình giải quyết vụ phá sản.

Xem thêm >> Trách nhiệm của thành viên khi công ty TNHH bị phá sản ? Có được mở công ty mới sau khi phá sản ?

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn