Theo quy định tại khoản 2 Điềụ 58 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 3, Điều 9 Thông tư của Ngân hàng Nhà nước số 28/2012/TT-NHNN ban hành quy định về bảo lãnh ngân hàng:

1. Bảo lãnh vay vốn (hay bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay);

2. Bảo lãnh thanh toán;

3. Bảo lãnh dự thầu;

4. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng;

5. Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm;

6. Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước;

7. Bảo lãnh đối ứng;

8. Xác nhận bảo lãnh.

9. Các loại bảo lãnh khác mà pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Phân tích một số loại bảo lãnh cụ thể:

1. Bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền vay

Bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ tiền váy là hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó, tổ chức tín dụng cam kết bảo lãnh cho nghĩa vụ trả nợ tiền vay của khách hàng vay đối với bên cho vay trong hợp đồng tín dụng.

Vỉ dụ: Ngân hàng A bảo lãnh cho doanh nghiệp B vay tiền ngân hàng c. Trong ví dụ này, ngân hàng A đóng vai trò là bên bảo lãnh (đồng thời cũng là bên cung ứng dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng là doanh nghiệp B); doanh nghiệp B đóng vai trò là bên được bảo lãnh (đồng thời cũng là bên được cung ứng dịch vụ bảo lãnh); còn ngân hàng c đóng vai trò là bên nhận bảo lãnh (đồng thời cũng là bên có quyền trong mối quan hệ với khách hàng vay vốn).

Về lí thuyết, mặc dù bảo lãnh vay vốn được coi là một trong số các hình thức bảo lãnh ngân hàng nhưng hình thức bảo lãnh này cũng chứa đựng một số nét đặc thù để phân biệt với các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác do các tổ chức tín dụng thực hiện trên thị trường. Nét đặc thù của hình thức bảo lãnh này được thể hiện thông qua các dấu hiệu cơ bản sau đây:

Một là đối tượng của bảo lãnh yay vốn chính là nghĩa vụ tài sản Của bên vay đối với bên cho vay (bao gồm nghĩa vụ hoàn trả tiền vay cả gốc và lãi, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài sản khác của bên vay đối với bên cho vay, nếu có...). Cũng vì đối tượng của bảo lãnh vay vốn thực chất là nghĩa vụ tài sản của bên vay đối với bên cho vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà vốn dĩ nghĩa vụ này thường bị vi phạm nên trong thực tế tổ chức tín dụng bảo lãnh thường phải thực hiện thay, với tư cách là người bảo lãnh. Điều này cho thấy bảo lãnh vay vốn là hình thức bảo lãnh ngân hàng chứa đựng nguy cơ rủi ro và bất trắc rất lớn cho các tổ chức tín dụng bảo lãnh.

Hai là trong bảo lãnh vay vốn, cơ sở pháp lí làm phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh chính là hợp đông tín dụng. Vì thế chỉ khi nào hợp đồng tín dụng đã phát sinh hiệu lực pháp lí thì khi đó nghĩa vụ được bảo lãnh mới phát sinh và sự bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho khách hàng mới có ý nghĩa thực tiễn. Vậy nếu giả thiết rằng ngân hàng A đã phát hành thư bảo lãnh gửi -cho ngân hàng c (bên cho vay) và ngân hàng c đã giao kểt hợp đồng tín dụng với khách hàng vay là doanh nghiệp B nhưng sau đó hợp đồng tín dụng này bị toà án tuyên bố là vô hiệu thì liệu ngân hàng A có quyền yêu cầu doanh nghiệp B thanh toán khoản phí bảo lãnh cho mình hay không? Trong tình huống này, tuy hợp đồng tín dụng là cơ sở để hình thành quan hệ bảo lãnh ngân hàng nhưng do hợp đồng dịch vụ bảo lãnh (hợp đồng cấp bảo lãnh) giữa tổ chức tín dụng với khách hàng có tính độc lập so với hợp đồng tín dụng nên sự vô hiệu của hợp đồng tín dụng không hề dẫn tới sự vô hiệu của hợp đồng dịch vụ bảo lâầih. Vì lẽ đó, mặc dù hợp đồng tín dụng bị vô hiệu nhưng hợp đông dịch vụ bảo lãnh không bị vô hiệu theo, hệ quả là hợp đồng này vẫn phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lí cho các bên giao kết. Nếu trên thực tế tổ chức tín dụng bảo lãnh đã phát hành thu bảo lãnh theo đúng cam kết với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ bảo lãnh thì họ vẫn có quyền yêu cầu khách hàng phải thanh toán cho mình khoản phí dịch vụ bảo lãnh.

2. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó, tổ chức tín dụng lập cam kết bảo lãnh với bên có quyền để hứạ sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản trong hợp đồng thay cho khách hàng là bên có nghĩa vụ, nếu đến hạn mà người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên có quyền.

Ví dụ: Ngân hàng A bảo lãnh cho doanh nghiệp B mua hàng hoá của doanh nghiệp c. Trong ví dụ này, ngân hàng A đóng vai trò là bên bảo lãnh; doanh nghiệp B đóng vai trò là bên được bảo lãnh và doanh nghiệp c đóng vai trò là bên nhận bảo lãnh.

Với tư cách là hình thức bảo lãnh ngân hàng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể phân biệt với các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác ở chỗ đối tượng của bảo lãnh thực hiện hợp đồng chính là các nghĩa vụ tài sản của khách hàng (bên có nghĩa vụ) đối với bên có quyền. Nghĩa vụ tải sản này phát sinh từ một họp đồng đã có hiệu lực được giao kết giữa bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) với khách hàng là bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), về nguyên tắc, do tổ chức tín dụng bảo lãnh chỉ có khả năng thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng được bảo lãnh bằng tài sản của mình chứ không phải bằng việc thực hiện công việc nhất định nên nghĩa vụ được bảo lãnh (tức là nghĩa vụ tài sản của khách hàng đối với bên có quyền - đối tượng của bảo lãnh thực hiện hợp đồng) cũng phải có khả năng tính được thành tiền. Vì thế nếu' khách hàng yêu cầu tổ chức tín dụng bảo lãnh cho công việc của họ phải thực hiện đối với bên có quyền mà bản thân công việc đó không thể trị giá được thành tiền thì do đó công việc này không thể là đối tượng của bảo lãnh ngân hàng.

3. Bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán của người mắc nợ đổi với chủ nợ

Bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán là một trong số các hình thức bảo lãnh ngân hàng điển hình, theo đó tổ chức tín dụng lập cam kết bảo lãnh với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng (bên được bào lãnh) nếu đến hạn mà người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán của họ đối với bên có ( quyền (bên nhận bảo lãnh).

Theo định nghĩa này, pháp luật không xác định rõ đây là nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng nên về nguyên tắc có thể hiểu nghĩa vụ được bảo lãnh trong trường hợp này bao gồm cả nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng và nghĩa vụ thanh toán ngoài hợp đồng. Có thể nhận thấy dấu hiệu cơ bản nhất để phân biệt bảo lãnh thanh toán với các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác chính là ở đối tượng bảo lãnh, đó là các nghĩa vụ thanh toán của khách hàng (bên đứợc bảo lãnh) đối với chủ nợ của họ (bên nhận bảo lãnh). Các nghĩa vụ thanh toán này có thể phát sinh từ một họp đồng (ví dụ: nghĩa vụ trả tiền hàng hoá, dịch vụ đã mua...) hoặc ngoài hợp đồng (chẳng hạn, nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ nộp phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...). Nghĩa vụ này bao giờ cũng là món tiền cụ thể mà khách hàng được bảo lãnh - với tư cách là người mắc nợ phải thanh toán cho bên chủ nợ vào một ngày nhất định trong tương lai.

4. Bảo lãnh dự thầu

Bảo lãnh dự thầu là hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó, tổ chức tín dụng lập cam kết bảo lãnh với bên mời thầu để bảo đảm cho các nghĩa vụ tài sản của khách hàng (bên dự thầu) khi tham gia dự thầu, nếu khách hàng không thực hiện được các nghĩa vụ đó thì tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ thực hiện thay.

Ví dụ: Ngân hàng A bảo lãnh cho công ty xây dựng B tham gia dự thầu xây dựng công trình nhà văn hoá thể thao của bên mời thầu c. Trong ví dụ này, ngân hàng A đóng vai trò là bên bảo lãnh; công ty xây dựng B đóng vai ưò là bên được bảo lãnh còn bên mời thầu c đóng vai trò là bên nhận bảo lãnh.

Về lí thuyết, bảo lãnh dự thầu có thể phân biệt với các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác ở những đặc điểm sau đây:

Một là đối tượng của bảo lãnh dự thầu chính là các nghĩa vụ tài sản của bên dự thầu đối với bên mời thầu khi tham gia dự thầu. Các nghĩa vụ tài sản này thông thường bao gồm nghĩa vụ nộp tiền kí quỹ dự thầu, nghĩa vụ nộp tiền phạt do vi phạm quy định dự thầu. Các nghĩa vụ này có thể phát sinh do thoả thuận của các bên (bên mời thầu và bên dự thầu) hoặc do pháp luật quy định trước. Tuy nhiên, dù cho các nghĩa vụ được bảo lãnh của bên dự thầu đối với bên mời thầu được phát sinh từ cơ sở pháp lí nào thì trong văn bản bảo lãnh của tổ chức tín dụng phát hành cũng phải ghi rõ nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ gì, giá trị của nghĩa vụ đó là bao nhiêu tiền và với điều kiện nào thì tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay cho khách hàng với vai ừò là người bảo lãnh.

Hai là về chủ thể, bên nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh dự thầu bao giờ cũng là bên mời thầu, còn khách hàng được bảo lãnh bao giờ cũng là bên dự thầu.

5. Bảo lãnh bào đảm chất lượng sản phẩm

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm là cam kết của tổ chức tín dụng với bên nhận bảo lãnh, sẽ bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã kí với bên nhận bảo lãnh.

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm thực chất là một dạng cụ thể của hình thức bảo lãnh thực hiện hợp đọng. Tuy nhiên, bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm có thể phân biệt với các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác ở những đặc điểm sau đây:

Một là đối tượng của bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm chính là nghĩa vụ thanh toán tiền phạt và tiền bồi thường thiệt hại của khách hàng được bảo lãnh đối với bên nhận hàng hoá do khách hàng đã vi phạm điều khoản về chất lượng sản phẩm theo họp đồng đã kí. Theo quy định này, chỉ khi nào khách hàng được bảo lãnh bị bên đối tác áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng hoặc buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm điều khoản về chất lượng sản phẩm mà khách hàng không tự thực hiện được thì tổ chức tín dụng bảo lãnh mới phải thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng, với tư cách là người bảo lãnh.

Hai là về chủ thể, khách hàng được bảo lãnh bao giờ cũng là nhà cung cấp sản phẩm hàng hoá và do đó người này mặc nhiên có nghĩa vụ phải bảo đảm chất lượng cho sản phẩm mình đã cung cấp cho khách hàng. Nghĩa vụ này trước hết là nghĩa vụ phát sinh từ các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, sau nữa cũng có thể là nghĩa vụ phát sinh từ chính hợp đồng cung cấp sản phẩm hàng hoá được kí kết giữa nhà cung cấp với khách hàng mua sản phẩm, nếu các bên có ghi rõ trong hợp đồng về nghĩa vụ bảo đảm chất lượng sản phẩm của nhà cung cấp.

Ngoài ra, bên nhận bảo lãnh trong trường hợp bảo lãnh bào đảm chất lượng sản phẩm chính là người mua sản phẩm hàng hoá. Cần lưu ý rằng chỉ người mua nào đã được xác định rõ trong hợp đồng cung cấp sản phẩm cũng như hợp đồng dịch vụ bảo lãnh và cam kết bảo lãnh thì mới được coi là bên nhận bảo lãnh và mới có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ tài sản thay cho nhà cung cấp. Dĩ nhiên, muốn thực hiện quyền năng pháp lí này đối với tổ chức tín dụng bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh - với tư cách là người mua phải dẫn chứng về việc người bán - khách hàng được bảo lãnh đã vi phạm điều khoản về chất lượng sản phẩm hàng hoá và do đó họ có nghĩa vụ phải chịu phạt vi phạm hợp đồng hoặc trả tiền bồi thường thiệt hại đối với người mua, cũng như các nghĩa vụ tài sản khác phát sinh từ việc vi phạm điều khoản hợp đồng về chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, tổ chức tín dụng bảo lãnh sẽ chỉ phải thực hiện thay cho khách hàng được bảo lãnh những nghĩa vụ tài sản nào của khách hàng mà họ đã cam kết bảo lãnh trong văn bản bảo lãnh.

6. Bảo lãnh đối ứng

Bảo lãnh đối ứng là hình thức bảo lãnh ngân hàng, theo đó tổ chức tín dụng bảo lãnh đổi ứng lập cam kết bảo lãnh đối ứng với bên bảo lãnh để hứa sẽ thực hiện thay khách hàng được bảo lãnh các nghĩa vụ tài chính của họ đối với bên bảo lãnh, nếu đến hạn mà người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của họ đối với bên bảo lãnh.

Ví dụ: Ngân hàng A bảo lãnh cho doanh nghiệp B thanh toán khoản tiền hàng nhập khẩu với bên nước ngoài. Ngân hàng c lập cam kết bảo lãnh đối ứng với ngân hàng A để bảp đảm thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp B đối 'ới ngân hàng A (bao gồm nghĩa vụ trả phỉ bào lãnh, nghĩa vụ trả lại số tiền đã được trả thay, nghĩa vụ trả tiền lãi và tiền ạt chậm thanh toán, nếu có...).

Trong ví dụ này, ngân hàng A đóng vai trò là bên bảo lãnh trong mối quan hệ với bên bán hàng niiởẹ ngoài), vừa là •?hận bảo lãnh đối ứng (xét trong mối qùan hệ với ngân C). Ngân hàng c đóng vai trò là bên bảo lãnh đối ứng >ng mối quan hệ với ngân hàng A), vừa là bến cung ứng bảo lãnh (xét trong mối quan hệ với doanh nghiệp B). nh nghiệp B vừa là khách hàng được bảo lãnh của t A đồng thời cũng là khách hàng được bảo lãnh của c, mặc dù nghĩa vụ được bảo lãnh của doanh mg hai quan hệ bảo lãnh này là khác nhau.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật ngân hàng, hoạt động ngân hàng về bảo lãnh Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật ngân hàng trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật ngân hàng - Công ty luật Minh Khuê