Luật sư tư vấn:

Các loại người trong đồng phạm được quy định tại Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 gồm:

+ Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

+ Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

+ Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

+ Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Cụ thể:

 

1. Người thực hành là gì?

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm, nghĩa là người tự mình thực hiện tội phạm; hoặc thông qua các hành vi của người không đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoặc không đủ độ tuổi, hay người không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm về những tình tiết khách quan, hoặc bị lừa dối, hoặc bị cưỡng bức về mặt thể chất hay tinh thần... để họ thực hiện tội phạm.

Người thực hành có hai dạng:

Thứ nhất: Người thực hành tự mình thực hiện tội phạm. Có nghĩa là người đó tự mình thực hiện các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự. Ví dụ như người thực hành tự mình thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật trong tội giết người như: Người phạm tội cầm súng để bắn nạn nhân; cầm dao để đâm chết nạn nhân; hoặc người phạm tội sử dụng sức mạnh của tay để bóp cổ làm nạn nhân chết...

Thứ hai: Người thực hành tuy không tự mình trực tiếp thực hiện những hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng đã lợi dụng hoặc sử dụng người khác như một công cụ, phương tiện để thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.

Trong trường hợp này người thực hành đã gián tiếp tác động vào quan hệ xã hội được luật hình sựbảo vệ thông qua hành vi của người khác. Tuy nhiên họ vẫn bị coi là tự mình thực hiện hành vi phạm tội vì đã sử dụng người khác như những công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội thay mình. Và đó là lý do giải thích cho vấn đề tại sao một người không tự mình thực hiện hành vi phạm tội vẫn được coi là một dạng người thực hành trong vụ án đồng phạm.

Về mặt pháp lý, hành vi của người thực hành có vị trí trung tâm trong một vụ án đồng phạm. Bởi vì việc xác định hành vi của người thực hành giúp cho việc định tội chính xác, giúp cho việc xác định các giai đoạn phạm tội, trong việc xác định đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của những người đồng phạm khác cũng như của tội phạm đã được thực hiện... từ đó giúp cho việc quyết định hình phạt được chính xác.

 

2. Người tổ chức là gì?

Người tổ chức trong vụ án đồng phạm tồn tại dưới các dạng sau:

 

2.1 Người chủ mưu

Người chủ mưu là người có sáng kiến thành lập tổ chức phạm tội; người đưa ra phương hướng, cách thức thực hiện tội phạm; tổ chức, lôi kéo những người khác tham gia vào việc thực hiện tội phạm.

Như vậy, vai trò đặc trưng của người chủ mưu ở đây là đề xướng, là người có sáng kiến thành lập tổ chức tội phạm; đưa ra phương hướng hoạt động của tổ chức. Hay nói cách khác tổ chức không tự nhiên hình thànhmà nó xuất phát từ ý kiến đề xuất của người chủ mưu; và những người khác hưởng ứng theo đề xuất đó của người chủ mưu.

 

2.2 Người cầm đầu

Người cầm đầu là người đứng đẩu tổ chức phạm tội; người đứng ra thành lập các bâng, Ổ, nhóm hoặc tham gia soạn thảo kê'hoạch; đôn đô'c, điều khiển mọi hoạt động của tổ chức.

Người cầm đầu là người đứng ra thành lập tổ chức tội phạm; điều khiển chung của tổ chức phạm tội. Người cầm đầu trực tiếp đứng trong tổ chức để chỉ đạo mọi hoạt động của tổ chức phạm tội.

 

2.3  Người chỉ huy

Người chỉ huy là người trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện tội phạm của những người tham gia trong đồng phạm. Người chỉ huy giữ vai trò đôn đô'c những người đồng phạm khác thực hiện kế hoạch phạm tội đã đặt ra.

Người chỉ huy là người trực tiếp đôn đốc, điều khiển đồng bọn thực hiện tội phạm. Trong các vụ án đồng phạm phức tạp có thể xuất hiện nhiều tên chỉ huy, mỗi tên chỉ huy một bộ phận, về phương thức hoạt động của tên chỉ huy là thường trực tiếp chỉ huy đồng bọn tại hiện trường; nhưng cũng có trường hợp người chỉ huy chỉ đạo đồng bọn từ xa thông qua các phương tiện thông tin liên lạc như điện thoại, bộ đàm...

Tóm lại, người tổ chức là người có vai trò rất quan trọng trong vụ án đồng phạm; là người phối hợp, thâu tóm hoạt động của những người đồng phạm khác; làm cho tổ chức phạm tội hoạt động thống nhất, có trật tự, chặt chẽ hơn; làm tăng thêm sức mạnh của tổ chức... Trong đa số trường hợp, vai trò của người tổ chức được xác định là nguy hiểm hơn cả trong số những người đồng phạm. Việc xác định người tổ chức trong vụ án đồng phạm có ý nghĩa rất quan trọng như đảm bảo cho việc phân hóa tội phạm; tạo cơ sở cho việc chuẩn bị phương pháp, chiến thuật đấu tranh phù hợp với từng vụ án cụ thể và góp phần xử lý nghiêm khắc hành vi của người tổ chức.

 

3. Người xúi giục là gì?

Vai trò của người xúi giục thể hiện trong việc thúc đẩy cho tội phạm được thực hiện thông qua một người khác, bằng các thủ đoạn kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người bị xúi giục.

+ Kích động được hiểu là bằng lòi nói, cử chỉ hành động, thư từ, thần quyền, giáo lý... để khuyên nhủ, khêu gợi tác động vào tâm lý người khác làm họ nảy sinh ý định phạm tội. Sự kích động cũng có thể được thể hiện như đánh vào tâm tư tình cảm, sự ghen tuông, gây mâu thuẫn, bất mãn hoặc khó khăn trong đời sống của người khác để hưóng họ vào việc thực hiện tội phạm.

+ Dụ dỗ được hiểu là bằng lời nói, cử chỉ, hành động để mua chuộc, hứa hẹn về vật chất, tinh thần để tác động lên tâm lý của người bị xúi giục làm họ nảy sinh ý định phạm tội. Ví dụ như hứa cho quà, xin việc, cung cấp tiền... để họ thực hiện tội phạm.

+ Thúc đẩy được hiểu là bằng những thủ đoạn khác nhau làm người bị xúi giục nảy sinh ý định phạm tội và mau chóng thực hiện tội phạm. Ví dụ như đe dọa, khống chế, lợi dụng chức vụ quyền hạn; lợi dụng sự phụ thuộc của người khác vào mình để cưõng ép họ thực hiện tội phạm.

Thực tiễn công tác đấu tranh phòng chốhg tội phạm cho thấy hành vi xúi giục thường xảy ra trong thực tế ở 2 dạng sau:

Thứ nhất, hành vi xúi giục làm nảy sinh ý định phạm tội của người khác. Nghĩa là hành vi xúi giục làm cho người khác từ chỗ chưa có ý định phạm tội đến nảy sinh ý định phạm tội và tiến hành việc thực hiện tội phạm.

Thứ hai, hành vi xúi giục làm tái tạo, phục hồi ý định phạm tội của người khác. Nghĩa là người này đã có ý định phạm tội, song vì lý do nào đó họ đã từ bỏ ý định phạm tội. Nhưng người xúi giục đã dùng lòi nói và hành động để kích động, dụ dỗ, thúc đẩy làm tái tạo, phục hồi ý định phạm tội và quyết tâm thực hiện tội phạm.

Để xác định vai trò của người xúi giục trong vụ án đồng phạm, cần xác định mối quan hệ nhân quả của nó; được thể hiện ở chỗ: Hành vi xúi giục là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc thực hiện tội phạm của người bị xúi giục; còn hành vi phạm tội của người bị xúi giục là kết quả và mục đích cần đạt được của hành vi xúi giục.

 

4. Người giúp sức là gì?

Trong thực tế, hành vi giúp sức có thể được thể hiện dưới hai dạng: Giúp sức về vật chất và giúp sức về tinh thần.

+ Giúp sức về vật chất là cung cấp công cụ, phương tiện để sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; giúp đố về kỹ thuật, giúp đỡ bằng chân tay; chứa chấp, dẫn đường, che giấu người phạm tội; xóa các dấu vềt tang vật của tội phạm... tạo ra những điều kiện về vật chất cần thiết khác để người thực hành thực hiện tội phạm được dễ dàng, thuận lợi...

+ Giúp sức về tinh thần là việc tạo ra các điều kiện về tinh thần cho việc thực hiện tội phạm như: Cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến tội phạm định phạm; chỉ dẫn, góp ý kiến cho việc thực hiện tội phạm được thuận lợi... Ngoài ra, người giúp sức còn hứa hẹn sẽ giúp cho việc che giấu những gì liên quan đến tội phạm; hứa hẹn sẽ giúp cho người phạm tội sau khi họ thực hiện tội phạm.

Hành vi giúp sức có thể xảy ra trước, trong hoặc sau hành vi của người thực hành. Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa hành vi của người giúp sức với hành vi của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục mà chúng ta đã nghiên cứu ở phần trên. Bởi hành vi của những người đồng phạm này bắt buộc phải xảy ra trước hành vi của người thực hành.

Người giúp sức không trực tiếp thực hiện tội phạm; không làm nảy sinh ý định phạm tội; không thâu tóm, phối hợp hành động của những người đồng phạm khác mà chỉ có hành vi tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm.

Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)