1. Hành vi quay video người khác đăng lên mạng có vi phạm pháp luật?

Hiện nay, rất nhiều người có sở hữu cho mình ít nhất một chiếc điện thoại có khả năng chụp ảnh và quay phim. Chỉ cần vài thao tác, một video có thể được tạo ra và sau đó được đăng lên mạng, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Những video này có thể mang ý nghĩa và có những hệ quả khác nhau tuỳ thuộc vào suy nghĩ và mục đích của người tạo video.

Trên mạng xã hội hiện nay cũng có nhiều video tiêu cực. Trong số đó, có những video không phản ánh đầy đủ nội dung sự việc và có thể gây hiểu lầm cho người xem, tác động một cách không nhỏ đến dư luận xã hội và những người có liên quan. Hành vi tự ý quay phim và đăng video lên mạng xã hội là một vấn đề không mới nhưng vẫn luôn gây "nóng". Việc quay phim và đăng video lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý của những người liên quan có thể gây ra nhiều hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng.

Hành vi quay phim khi chưa có sự đồng ý của người khác là một hành vi vi phạm quyền cá nhân về hình ảnh và quyền riêng tư, bí mật cá nhân theo quy định tại Điều 32 và Điều 38 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trong trường hợp này, người bị xâm phạm có quyền yêu cầu người vi phạm dừng hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai, yêu cầu bồi thường hoặc khởi kiện lên tòa án theo quy định của pháp luật để đòi lại bồi thường. Nếu người quay phim đăng video về người khác lên mạng xã hội mà không có sự đồng ý, họ có thể bị xử phạt hành chính từ 10 đến 20 triệu đồng, theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Nếu việc đăng tải video gây ra hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Theo quy định tại Điều 32 của Bộ luật Dân sự năm 2015, người dân có quyền ghi hình mà không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ chỉ trong hai trường hợp sau: thứ nhất, khi hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng; thứ hai, khi hình ảnh được ghi lại từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác, mà không gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của người có hình ảnh. Hành vi ghi hình này được thực hiện trong trường hợp không bị ràng buộc bởi các quy định và yêu cầu khác.

Ngoài ra, người dân cũng có quyền chụp hình hoặc quay phim để giám sát cảnh sát giao thông trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc quay phim phải tuân thủ các điều kiện quy định tại khoản 5 của Điều 11 trong Thông tư 67/2019/TT-BCA của Bộ Công an, liên quan đến thực hiện dân chủ trong công tác bảo đảm trật tự và an toàn giao thông. Điều kiện đó bao gồm không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cán bộ và chiến sĩ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; không quay phim ngoài khu vực được bảo đảm trật tự và an toàn giao thông (đối với các khu vực có triển khai bảo đảm trật tự và an toàn giao thông); và tuân thủ các quy định pháp luật khác có liên quan.

Ngoài các trường hợp nêu trên, người dân không được phép và cũng không nên quay phim và đăng tải video lên mạng xã hội khi chưa có sự đồng ý, bất kể mục đích là gì. Trước khi bấm nút quay, chúng ta nên tự hỏi: liệu hành động này có tuân thủ quy định của pháp luật không và có thể bị xử phạt như thế nào? Nếu người trong video là chính bản thân hoặc người thân của chúng ta, họ sẽ bị ảnh hưởng như thế nào? Mỗi người hãy cẩn trọng để không biến việc tự ý ghi hình người khác và đăng tải video lên mạng xã hội thành "thói quen" vì hành động này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tóm lại, đây là một hành động không đúng về mặt đạo đức và cũng vi phạm quy định của pháp luật và có thể sẽ bị xử phạt.

 

2. Quay video đăng lên mạng nhằm xúc phạm nhân phẩm phạm tội gì?

Theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm e khoản 2 của Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), tội làm nhục người khác được miêu tả như sau:

Người nào xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm và danh dự của người khác sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời gian tối đa là 03 năm. Do đó, trong trường hợp người nào có hành vi quay video người khác và sử dụng video hoặc hình ảnh đó công khai, đăng tải thông tin nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự và nhân phẩm của người khác, họ sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời gian tối đa là 03 năm.

Ngoài ra, nếu có các tình tiết tăng nặng, như gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 61% hoặc làm nạn nhân tự sát, người có hành vi trên còn có thể bị phạt tù đến 05 năm.

Ngoài ra, người quay lén người khác nhằm bịa đặt hoặc lan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm và danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội vu không quy định tại Điều 156 của Bộ luật Hình sự 2015.

 

3. Quay video cho người khác xúc phạm nhân phẩm có phải là đồng phạm không?

Theo Khoản 1 của Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2017), các dấu hiệu của đồng phạm được xác định như sau: Đồng phạm là khi có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, đây là hình thức phạm tội cố ý khác với hình thức phạm tội riêng lẻ.

Theo định nghĩa này, đồng phạm có những dấu hiệu sau đây:

- Sự tham gia của hai người trở lên.

- Hai người đó cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Thứ nhất, để xem xét về đồng phạm, cần có ít nhất hai người và cả hai người này phải đáp ứng các điều kiện của chủ thể tội phạm. Điều này có nghĩa là cả hai người đều phải có đủ khả năng pháp lý để chịu trách nhiệm hình sự (bao gồm khả năng nhận thức và khả năng kiểm soát hành vi, cũng như đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự). Trong trường hợp tội phạm có chủ thể đặc biệt, thì dấu hiệu chủ thể đặc biệt chỉ áp dụng cho người thực hiện trong số các đồng phạm.

Thứ hai, với dấu hiệu cố ý cùng thực hiện tội phạm, mỗi người phải cố ý tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi sau:

  • Thực hiện hành vi gây ra tội phạm. Người thực hiện hành vi này được gọi là người thực hiện.
  • Tổ chức thực hiện tội phạm. Người có hành vi này được gọi là người tổ chức.
  • Xúi giục người khác thực hiện tội phạm. Người có hành vi này được gọi là người xúi giục.
  • Giúp sức người khác thực hiện tội phạm. Người có hành vi này được gọi là người giúp sức.

Nếu không có một trong những hành vi này, không thể xem là cùng thực hiện và do đó cũng không phải là đồng phạm.

Hậu quả thiệt hại của tội phạm là kết quả chung do hoạt động của tất cả những người đồng phạm tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người và hậu quả thiệt hại của tội phạm.

Như vậy, đối với trường hợp quay video cho người khác xúc phạm nhân phẩm, người quay video nếu cùng có ý chí, mục đích và động cơ là ghi lại hình ảnh và cung cấp cho người khác đăng lên mạng nhằm xúc phạm danh dự nhân phẩm của một cá nhân thì cũng được xem là đồng phạm. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, có thể xảy ra cả 4 dạng đồng phạm như sau:

- Nếu người quay video cũng chính là người lên kế hoạch và phân công cho người khác đăng video đó lên mạng nhằm xúc phạm danh dự của một cá nhân thì lúc này người quay video là đồng phạm với vai trò người tổ chức.

- Nếu người quay video sau đó xúi giục một người đăng video đó lên mạng nhằm xúc phạm danh dự người khác thì lúc này người quay video sẽ là đồng phạm với vai trò người xúi giục.

- Nếu người quay video theo kế hoạch, thỏa thuận với người khác và cùng nhau thực hiện việc đăng lên mạng nhằm mục đích xúc phạm danh dự nhân phẩm thì lúc này sẽ được xác định là đồng phạm với vai trò người đồng thực hiện.

- Nếu người quay video sau đó cung cấp cho người khác đăng lên mạng nhằm xúc phạm danh dự nhân phẩm thì được xác định là người giúp sức.

Dù là đồng phạm dưới vai trò nào thì cũng sẽ phải cùng chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội. Tuy nhiên cũng cần lưu ý người đồng phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.

Mời quý bạn đọc cùng tham khảo bài viết sau đây nếu như bài viết trên đây vẫn chưa đủ cung cấp cho quý bạn đọc những thông tin mà bạn đang tìm kiếm: Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ? 

Những thông tin và phân tích của Luật Minh Khuê về vấn đề quay video cho người khác xúc phạm nhân phẩm có phải là đồng phạm không đã được trình bày cụ thể qua bài viết trên đây. Hy vọng rằng những thông tin này sẽ hữu ích và gỡ được những thắc mắc của khách hàng. Nếu như vẫn còn băn khoăn về vấn đề này hoặc gặp trục trặc về những vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng kết nối với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến của Luật Minh Khuê qua số tổng đài: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Chúng tôi luôn mong muốn được hỗ trợ, giải đáp những vướng mắc của khách hàng và cung cấp đến quý khách hàng dịch vụ chất lượng nhất. Cuối cùng, xin cảm ơn sự tin tưởng và đồng hành của quý khách hàng với Luật Minh Khuê.