1. Vấn đề chủ thể đặc biệt trong đồng phạm

Đối với những tội phạm có chủ thể đặc biệt, luật hình sự chỉ đòi hỏi người thực hành có đặc điểm của chủ thể đó. Những người đồng phạm khác không nhất thiết phải có những đặc điểm của chủ thể đặc biệt. Ví dụ: Trong vụ tham ô tài sản, người thực hành phải là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến tài sản còn những người đồng phạm khác (xúi giục, giúp sức, tổ chức) có thể là người không có chức vụ, quyền hạn như vậy.

2. Vấn đề xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm

Nếu những người đồng phạm không thực hiện tội phạm được đến cùng do những nguyên nhân khách quan thì người thực hành thực hiện tội phạm đến giai đoạn nào, họ phải chịu trách nhiệm hình sự đến đó.

Nếu người bị xúi giục không nghe theo, sự xúi giục không có kết quả thì chỉ riêng người xúi giục phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà họ muốn xúi giục.

Nếu người giúp sức giúp người khác thực hiện tội phạm nhưng người này không thực hiện tội phạm đó hoặc không sử dụng sự giúp sức thì người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mà họ muốn giúp sức. Ví dụ: Canh gác giúp người khác để người này bán chất ma tuý nhưng thực tế không có chất ma tuý mà chỉ là lừa dối bán chất ma tuý giả để chiếm đoạt tài sản của người mua. Trong trường họp này, người giúp sức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý (Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

3. Vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trong đồng phạm

Trong vụ đồng phạm, khi có sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của một người hay một số người thì việc miễn trách nhiệm hình sự chỉ được áp dụng đối với người đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Đối với người thực hành, vấn đề tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội cũng như trường hợp phạm tội riêng lẻ. Khi người thực hành tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì chỉ riêng họ được miễn trách nhiệm hình sự. Những người đồng phạm khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm họ đã tham gia ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt, tuỳ thuộc vào thời điểm mà người thực hành đã tự ý nửa chừng chẩm dứt việc phạm tội.

Đối với người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức, việc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội phải được thực hiện trước khi người thực hành thực hiện tội phạm và phải có hành động tích cực làm mất tác dụng của những hành vi trước đó của mình, để ngăn chặn việc thực hiện tội phạm (như thu hồi lại công cụ, phương tiện đã cho mượn).

4. Phân tích những hành vi liên quan đến tội phạm (đồng phạm)

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm ?

Liên quan đến tội phạm nhưng không phải là hành vi cùng thực hiện (hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức hay thực hành) đều không phải là hành vi đồng phạm mà chỉ có thể cấu thành tội phạm khác trong những trường hợp được luật quy định. Những trường hợp đó là không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm. Hành vi không tổ giác tội phạm và hành vi che giấu tội phạm được gọi chung là hành vi liên quan đến tội phạm. Cả hai hành vi này đều không ảnh hưởng đến việc thực hiện tội phạm không được tố giác hoặc che giấu. Do vậy, người có hành vi che giấu hoặc không tố giác tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người thực hiện tội phạm với vai trò người đồng phạm.

Trước khi có BLHS đầu tiên, luật hình sự Việt Nam chưa có quy định riêng về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm mà chỉ có quy định về các trường hợp cụ thể của hai tội phạm này.

Ví dụ: Tội che giấu phần tử phản cách mạng (Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967).

- Tội bao che cho kẻ xâm phạm tài sản XHCN (hoặc tài sản của công dân) (Điều 19 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, Điều 15 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970) V.V..

Trong BLHS đầu tiên cũng như trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện hành, tiếp theo điều luật quy định về đồng phạm có hai điều luật quy định chung về hành vi che giấu tội phạm và về hành vi không tố giác tội phạm. Việc có những quy định như vậy là cần thiết để làm rõ thêm dấu hiệu của đồng phạm và phân biệt hành vi đồng phạm với những hành vi liên quan đến tội phạm.

Tội che giấu tội phạm là hành vi “... không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lí người phạm tội... (Điều 18 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đặc điểm của hành vi che giấu tội phạm là không có sự hứa hẹn trước; hành vi này được thực hiện khi tội phạm đã kết thúc. Hành vi che giấu tội phạm được biểu hiện dưới hình thức hành động với lỗi cố ý trực tiếp. Do tính nguy hiểm của các tội phạm được che giấu khác nhau nên hành vi che giấu cũng có tính nguy hiểm khác nhau. Do vậy, không phải hành vi che giấu tội phạm nào cũng cấu thành tội che giấu tội phạm. Hành vi che giấu tội phạm chỉ cấu thành tội che giấu tội phạm khi che giấu những tội nhất định đã được luật quy định (Điều 389 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Ngoài ra, khoản 2 Điều 18 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn giới hạn phạm vi chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm khi xác định người không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội khác thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng.

Tội không tố giác tội phạm là hành vi "... biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác...” (Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi không tố giác tội phạm được thực hiện bằng hình thức không hành động, lỗi của người có hành vi không tố giác tội phạm là cố ý trực tiếp. Do tính nguy hiểm của các tội phạm không bị tố giác khác nhau nên hành vi không tố giác cũng có tính nguy hiểm khác nhau. Do vậy, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng cấu thành tội không tố giác tội phạm. Hành vi không tô giác tội phạm chỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm khi không tố giác những tội nhất định đã được luật quy định (Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

Ngoài ra, khoản 2 và khoản 3 Điều 19 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 còn giói hạn phạm vi chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm khi xác định người không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội khác thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng) là:

- Ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội và

- Người bào chữa cho người phạm tội (về tội phạm do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa).

Người không tố giác tội phạm nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân tích tình tiết “Có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” có đồng phạm ?