- 1. Nguồn luật hình sự là gì?
- 2. Các quan điểm về các loại nguồn của luật hình sự
- 2.1. Bộ luật hình sự hiện hành là nguồn duy nhất của luật hình sự Việt Nam
- 2.2. Nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp
- 2.3. Các văn bản luật hình sự và đường lối chính sách của Đảng
- 3. Luật hình sự Việt Nam tồn tại trong những nguồn nào?
Xin chào công ty luật Minh Khuê. Em tên là Nguyễn Doanh, hiện đang là sinh viên năm 2 khoa luật Trường Đại học Công Đoàn. Em có một thắc mắc mong được luật sư giải đáp ạ. Xin luật sư cho biết các loại nguồn của luật hình sự Việt Nam là gì? Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Em xin chân thành cảm ơn! (Nguyễn Doanh - Hà Nội)
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Nguồn luật hình sự là gì?
Nguồn luật hình sự Việt Nam là phương thức tồn tại của luật hình sự Việt Nam, là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung, đồng thời là hình thức xác định phạm vi giới hạn của luật hình sự Việt Nam về không gian, thời gian và đối tượng chịu tác dộng trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.
2. Các quan điểm về các loại nguồn của luật hình sự
Nghiên cứu nguồn luật hình sự không thể chỉ dừng lại ở vấn đề khái niệm bởi trong thực tế nguồn luật hình sự không tồn tại một cách chung chung mà là dưới những dạng nguồn cụ thể. Từ phương diện lý luận chung về pháp luật, nguồn pháp luật có ba dạng cơ bản là văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp và tập quán pháp. Vận dụng lý luận này vào lĩnh vực luật hình sự dường như là chưa có sự phù hợp nếu ta xét đến một số quan điểm về nguồn luật hình sự phổ biến trong giới học thuật Việt Nam dưới đây.
Quan điểm thứ nhất, theo một tác giả thể hiện trong cuốn Giáo trình luật hình sự Việt Nam, của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, khẳng định: “Bộ luật hình sự hiện hành là nguồn duy nhất của luật hình sự Việt Nam”.
Quan điểm thứ hai, của tác giả cuốn sách chuyên khảo sau đại học Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự cho rằng, trong thời kỳ từ sau khi pháp điển hoá luật hình sự lần thứ nhất, hệ thông các nguồn của luật hình sự Việt Nam được chia tách thành hai loại: 1) Nguồn trực tiếp và duy nhất của luật hình sự là Bộ luật hình sự; 2) Nguồn gián tiếp của luật hình sự là các văn bản quy phạm pháp luật hình sự và các văn bản quy phạm pháp luật phi hình sự tuy không đề cập trực tiếp đến việc đấu tranh chống tội phạm nhưng ở các mức độ khác nhau có chứa đựng các quy định có liên quan với tính chất hỗ trợ cho việc giải quyết những vấn đề về trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đối với người phạm tội, cũng như tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Quan điểm thứ ba của một tác giả khác có một chút khác biệt so với các quan điểm trên bởi ông cho rằng, nguồn của luật hình sự Việt Nam, ngoài các văn bản pháp luật (trong nưóc và các điều ưồc quốc tế có sự tham gia của Việt Nam) còn bao gồm cả đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trong các văn kiện của Đảng.
2.1. Bộ luật hình sự hiện hành là nguồn duy nhất của luật hình sự Việt Nam
Để nghiên cứu một cách cẩn trọng, khách quan các quan điểm đã nêu, cần thấy được những lập luận làm cơ sở, nền tảng cho các quan điểm đó. Trước hết, về quan điểm cho rằng nguồn duy nhất của luật hình sự là Bộ luật hình sự. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng: Bộ luật hình sự là văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng đầy đủ, toàn diện và có hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ và các nguyên tắc của luật hình sự, về tội phạm, về hình phạt và các chế định khác liên quan đến tội phạm và hình phạt. Phải coi Bộ luật hình sự là nguồn duy nhất của luật hình sự vì chỉ như vậy mới bảo đảm được nguyên tắc “không ai có thể bị coi là có tội nếu hành vi của người đó không được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam”. Về mặt pháp lý, Bộ luật hình sự là nguồn duy nhất của luật hình sự vì tội phạm và hình phạt - hai nội dung quan trọng nhất của luật hình sự phải được quy định và chỉ được quy định duy nhất trong Bộ luật hình sự. Các văn bản pháp luật khác của Nhà nước không được quy định tội phạm, hình phạt mới mà chỉ có thể giải thích, làm rõ nội dung quy định về tội phạm và hình phạt đã có trong Bộ luật hình sự. Các kết luận chính thức, mang tính nhà nước của các cơ quan áp dụng pháp luật chỉ có thể viện dẫn Bộ luật hình sự làm căn cứ để khẳng định một người là có tội và áp dụng hình phạt đối với họ.
2.2. Nguồn trực tiếp và nguồn gián tiếp
Về quan điểm phân tách nguồn luật hình sự thành hai loại: nguồn trực tiếp (Bộ- luật hình sự) và nguồn gián tiếp (các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự của các cơ quan áp dụng pháp luật và các văn bản khác có liên quan đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội). Tác giả của quan điểm thứ hai đã phát triển lý thuyết nguồn luật hình sự theo một hướng mới: nguồn luật hình sự không chỉ là văn bản pháp luật quy định về tội phạm và hình phạt mà là căn cứ pháp lý để “các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của nhà nước giải quyết những vấn để về trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt đốì vói người phạm tội, cũng như tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt”. Nói cách khác, tác giả của quan điểm thứ hai đã nhấn mạnh đến tính thực tiễn của vấn đề nguồn luật hình sự.
2.3. Các văn bản luật hình sự và đường lối chính sách của Đảng
Tác giả của quan điểm thứ ba cho rằng: đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam là nguồn của luật hình sự bởi theo ông, hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự (của Toà án) đều phải dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng. Cần thấy rằng quan niệm về nguồn luật hình sự của tác giả này là quan niệm rộng; nguồn của luật hình sự bao gồm cả nguồn nội dung và nguồn hình thức. Chính từ quan niệm rộng này, việc coi đường lối, chính sách của Đảng là cơ sở của việc quy định tội phạm, mức độ và hình thức của trách nhiệm hình sự và hình phạt là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nếu đặt vấn đề nguồn luật hình sự là hình thức bên ngoài chứa đựng nội dung của luật hình sự thì sẽ không giải thích được việc tại sao đường lối, chính sách của Đảng lại là hình thức bên ngoài của pháp luật của Nhà nước. Cần phải diễn đạt theo chiều ngược lại, chính pháp luật của Nhà nước là sự thể hiện đường lối, chính sách của Đảng về mặt pháp lý. Như thế, đường lối, chính sách của Đảng là nguồn nội dung còn nguồn hình thức của luật hình sự, theo tác giả quan điểm thứ ba vẫn là các văn bản pháp luật, từ Hiến pháp, các văn bản pháp luật hình sự của Nhà nước (Bộ luật hình sự), các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia cho đến các văn bản hướng dẫn của các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Như vậy, trong tư duy pháp lý của các nhà luật học Việt Nam hiện nay, con đường đi từ nội dung đến hình thức pháp luật hình sự chỉ theo một lối duy nhất: các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Văn bản quy phạm pháp luật hay luật thành văn là thành quả của hoạt động sáng tạo pháp luật nên có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức pháp luật khác. Tuy nhiên, luật thành văn cũng không phải không có những hạn chế nhất định như nhiều nhà khoa học đã chỉ ra. Đây là lý do đưa một số người trong giới luật học Việt Nam đến kết luận: không chỉ có văn bản quy phạm pháp luật mà cả án lệ, tập quán pháp và học thuyết pháp lý cũng là nguồn của một số ngành luật tư như luật dân sự, luật kinh tế. Vấn đề đặt ra là, trong lĩnh vực luật "công", cụ thể là luật hình sự, có thể có các nguồn - hình thức bên ngoài nào khác ngoài văn bản quy phạm pháp luật không?
3. Luật hình sự Việt Nam tồn tại trong những nguồn nào?
Từ những điều đã trình bày trên, có thể thấy rằng, sẽ rất khó có thể tìm ra một lý do xác đáng để giải thích một cách rõ ràng cho giới hạn nguồn luật hình sự chỉ dừng lại ở văn bản quy phạm pháp luật hình sự. Ngoài luật thành văn, liệu rằng các nội dung của luật hình sự Việt Nam còn được thể hiện, phản ánh trong các nguồn khác hay không.
Cần phải thấy một điều là, luật thành văn, mà trước hết là Bộ luật hình sự là nguồn chủ yếu của luật hình sự Việt Nam. Xem xét vấn đề một cách kỹ càng hơn sẽ thấy, đa phần quy định của Bộ luật được thể hiện dưới một hình thức ngôn ngữ mang tính trừu tượng và khái quát cao.
Với cách quy định khái quát như vậy, Bộ luật hình sự Việt Nam luôn có nhu cầu cần được giải thích, hướng dẫn một cách cụ thể. Yêu cầu cơ bản của việc giải thích, hướng dẫn Bộ luật hình sự là phải giải thích, hướng dẫn đúng theo nội dung và tinh thần của Bộ luật (nghĩa là đúng với ý chí của nhà làm luật) mà không được đặt ra luật mới. Tuy nhiên, trong nhiều điều luật của Bộ luật hình sự các quy định dưới dạng “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”, “hàng cấm có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn” hay “thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn” thì việc xác định “ý chí của nhà làm luật” thực sự là một việc làm khó khăn. Chính sự chưa rõ ràng này đã buộc các cơ quan hướng dẫn, giải thích Bộ luật hình sự phải đặt ra “luật mới” bằng cách thêm vào quy định của Bộ luật hình sự những yếu tố mang tính chất định lượng cụ thể. Như thế, về thực chất, các văn bản giải thích, hướng dẫn Bộ luật hình sự có khi đã vượt ra ngoài giới hạn nội dung của Bộ luật. Điều này cũng đồng nghĩa rằng, theo một cách rất tự nhiên, nguồn của luật hình sự Việt Nam được mở rộng ra ngoài Bộ luật hình sự đến các văn bản hướng dẫn thi hành luật như Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hay các Thông tư liên tịch của các ngành nội chính hoặc giữa các ngành nội chính với các Bộ liên quan.
Tuy nhiên, vấn đề nguồn luật (thực sự) của luật hình sự Việt Nam không dừng lại ở các văn bản hướng dẫn thi hành luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong thực tế, số lượng các văn bản không phải nhiều và mỗi văn bản cũng chỉ giải thích, hướng dẫn một vài vấn đề vướng mắc nảy sinh từ hoạt động áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tư pháp. Thêm vào đó, một số hướng dẫn, do thời gian cũng như sự biến động, thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với thực trạng xã hội hiện thời. Trong những trường hợp này, cơ quan xét xử đã đưa ra một giải pháp có tính sáng tạo: chủ động đặt ra các quy tắc pháp luật mới dưới dâng “tổng kết kinh nghiệm xét xử” trong các Hội nghị tổng kết hàng năm của ngành mình hoặc qua các “công văn giải đáp các vướng mắc cho Toà án cấp dưới. Một điểu rõ ràng là, “Công văn” hay “Lời tổng kết Hội nghị công tác năm” của ngành Toà án không phải là những văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Hiến pháp và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trong thực tế, đây lại là những hình thức chứa đựng nội dung của luật hình sự và hình thức này, nếu được đặt tên gọi, có thể gọi là “lệ” của ngành Toà án.
Ngoài nguồn “án lệ” nêu trên, thực tế, các nội dung của luật hình sự còn được chứa đựng trong các nghiên cứu có tính chất lý thuyết khoa học lụật hình sự. Như thế, các tài liệu nghiên cứu luật cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc xác định nội dung của luật hình sự - những nội dung không chứa đựng trong các nguồn khác. Điểu này cho phép khẳng định nguồn luật hình sự Việt Nam hiện nay không chỉ có Bộ luật hình sự, các văn bản giải thích, hướng dẫn Bộ luật hình sự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà còn bao gồm cả "án lệ" và lý thuyết pháp luật.
Nếu án lệ và lý thuyết pháp luật được khẳng định là nguồn luật hình sự thì tập quán pháp có thể được xem là nguồn luật hình sự Việt Nam được không? Hiện tượng dùng tập quán địa phương để giải quyết các vụ việc về thực chất có tính chất hình sự với sự tham gia và thừa nhận của công quyền (hay ít nhất là một số cán bộ ngành tư pháp ở cấp cơ sở) liệu có cho phép đi đến một kết luận là: tập quán pháp cũng là nguồn của luật hình sự Việt Nam hay không? Những tập quán này hoàn toàn tách rời khỏi hệ thống pháp luật hình sự của Nhà nước, không chứa đựng hay phản ánh các nội dung pháp luật hình sự của Nhà nước. Sự “thừa nhận” của chính quyền xét đến cùng cũng không phải là sự thừa nhận chính thức bởi các văn bản pháp lý nên không thể xem các tập quán đã được thừa nhận là một “bộ phận” trong pháp luật để giải quyết các vụ việc cụ thể. Do đó, có thê nói, không có cơ sở khoa học xác đáng để coi tập quán pháp là nguồn luật hình sự Việt Nam.
Xem xét vấn đề các loại nguồn luật hình sự ở khía cạnh khác, một số tài liệu lý luận chung về nhà nước và pháp luật hiện nay định nghĩa nguồn pháp luật là “những căn cứ pháp lý mà dựa vào đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vận dụng để giải quyết các sự việc pháp lý cụ thể”. Theo cách định nghĩa này, nguồn luật hình sự phải là những căn cứ pháp lý để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án dựa vào để xác định một người là có tội hay không có tội, nếu có tội thì là tội gì và mức độ trách nhiệm hình sự cụ thể đến đâu. Phải thừa nhận một điểu là “Phần kết luận” trong các bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát cũng như “Phần quyết định” trong các bản án của Toà án chỉ nêu quy định của Bộ luật hình sự (các điểu, khoản, điểm của Bộ luật hình sự áp dụng cho bị can, bị cáo) như những căn cứ pháp lý để giải quyết vấn đê trách nhiệm hình sự đối vổi người phạm tội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các văn bản tố tụng nêu trên chỉ được lập ra vào những thời điểm nhất định của mỗi giai đoạn tố tụng và các điểu luật của Bộ luật hình sự được nêu ra chỉ có thể được xem là những căn cứ pháp lý chính thức được vận dụng để giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, về mặt thực chất, căn cứ pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền dựa vào để giải quyết vụ án hình sự ngoài Bộ luật hình sự còn có các loại nguồn khác như các văn bản giải thích, hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, các văn bản pháp luật khác (chẳng hạn, các luật chuyên ngành như luật đầu tư, luật bảo vệ môi trường, luật chứng khoán...), án lệ và lý thuyết pháp luật. Do các văn bản giải thích, hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự, các văn bản pháp luật khác, án lệ và lý thuyết pháp luật không được nêu trong các quyết định chính thức của các cơ quan tiến hành tố tụng, nên chỉ có thể coi đây là nguồn không, chính thức của luật hình sự Việt Nam.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy nguồn luật hình sự Việt Nam tương đối đa dạng và phức tạp. Để có thể tiếp cận vấn đề nguồn luật hình sự Việt Nam được rõ ràng hơn, cũng như thấy được vị trí, vai trò, ý nghĩa của từng loại nguồn cụ thể, cần có sự phân loại các loại nguồn luật hình sự Việt Nam.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "các loại nguồn của luật hình sự là gì". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập