1. Nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ chuyển ca

Khi người lao động làm việc liên tục trong ngày, trong ca làm việc, dẫn đến nhu cầu cần có khoảng thời gian nghỉ ngoi, thư giãn hợp lí để tránh căng thẳng, mệt mỏi. Người lao động làm việc liên tục 8 giờ/ngày hoặc 6 giờ/ngày (đối với công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại) thì được nghỉ giữa giờ ít nhất là 30 phút, và được tính vào thời giờ làm việc. Người lao động làm việc vào ban đêm được nghỉ ít nhất 45 phút giữa giờ và được tính vào thời giờ làm việc (Điều 109 Bộ luật lao động). Ngoài thời giờ nghỉ ngori này, người lao động làm việc trong ngày từ 10 giờ trở lên, kể cả số giờ làm thêm thi được nghỉ thêm ít nhất 30 phút tính vào giờ làm việc. Ngoài thời gian nghỉ giữa giờ này, người sử dụng lao động quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động (Điều 111 Bộ luật lao động năm 2019). Người sử dụng lao động được quyền bố trí thời giờ nghỉ linh hoạt, không nhất thiết mọi người lao động phải nghỉ cùng một lúc mà có thể bố trí luân phiên nhau nghỉ. Trong trường hợp làm theo ca, người lao động được nghỉ ít nhât 12 giờ trước khi chuyển sang ca làm việc khác (Điều 110 Bộ luật lao động năm 2019).

2. Nghỉ hàng tuần

Thời gian nghỉ hàng tuần là khoảng thời gian pháp luật quy định cho phép người lao động được nghỉ trong một tuần làm việc và người lao động không được hưởng lương. Theo pháp luật quốc tế, ngày nghỉ hàng tuần được Tổ chức Lao động quốc tế quy định trong các Công ước số 14 năm 1921 về nghỉ hàng tuần trong công nghiệp, Công ước số 106 năm 1957 về nghỉ hàng tuần trong thương mại và văn phòng. Theo đó, mỗi tuần làm việc, người lao động được nghỉ ít nhất 01 ngày làm việc tương ứng với 24 giờ. Pháp luật Việt Nam cũng quy định trong một tuần làm việc, người lao động được nghỉ ít nhất 24 giờ liên tục. Trong trường họp đặc biệt, do chu ki lao động không thể nghỉ hàng tuần thì người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 1 tháng ít nhất là 4 ngày.

Thông thường, người sử dụng lao động sắp xếp ngày nghỉ hàng tuần cho người lao động vào ngày cuối tuần (thứ 7, chủ nhật) phù hợp với nếp sinh hoạt chung và chu kì nghỉ ngơi của người lao động. Tuy nhiên, đối với những đơn vị do tính chất công việc không thực hiện nghỉ hàng tuần vào thứ 7, chủ nhật thì pháp luật cũng cho phép người sử dụng lao động được linh hoạt sắp xếp nghỉ vào ngày cố định khác trong tuần nhung phải ghi vào nội quy lao động. Trong những ngày nghỉ hàng tuần, người lao động chông được hưởng lương và nếu có huy động làm thêm thì được tưởng chế độ lương làm thêm giờ.

3. Nghỉ hàng năm

Trên phương diện quốc tể, nghỉ hằng năm được quy định trong ông ước số 132 năm 1970 của Tổ chức Lao động quốc tế. Theo đó, trong bất kì trường hợp nào, thời gian nghỉ cũng không dưới 3 tuần làm việc cho một năm làm việc. Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về điều kiện nghỉ, mức nghỉ hàng năm. về điều kiện nghỉ, người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được hưởng chế độ nghỉ hàng năm, hưởng nguyên lương với các mức 12, 14 và 16 ngày tùy theo điều kiện, mội trường ngành nghề và đối tượng cụ thể.1 số ngày nghỉ hàng năm của người lao động còn được tính tăng theo thâm niên làm việc, cứ 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì được tính nghỉ thêm một ngày nghỉ (xem: Điều 114 BLLĐ năm 2019).

Người sử dụng lao động có quyền quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động. người lao động cũng có thể thoả thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hàng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp, tối đa 3 năm 1 lần. Khi nghỉ hàng năm, nếu người lao động đi bằng phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thuỷ mà số ngày đi đường cả đi và về trên 2 ngày thì từ ngày thứ 3 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hàng năm và chỉ được tính cho 1 lần nghỉ trong năm.

Trong những ngày nghỉ hàng năm, kể cả nghỉ thêm theo thâm niên người lao động đều được hưởng nguyên lương. Nếu người lao động vì các lí do như tạm hoãn hợp đồng thực hiện nghĩa vụ quân sự, hết hạn hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng, bị sa thải, mất việc, thời giờ nghỉ hưu, chết... mà chưa nghỉ hàng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hàng năm thì được trả lương những ngày chưa nghỉ. người lao động cỏ dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hàng năm được tính theo tỉ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.

Khi nghỉ hàng năm, người lao động được tạm ứng trước khoản tiền í nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ. Tiền tàu xe và tiềi lương trong những ngày đi đường do hai bên thoả thuận, đối với người lao động làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh (vùng núi cao, vùng sâu, hải đảo) thì được người sử dụng lao động thanh toán (Điều 113 Bộ luật lao động năm 2019).

4. Nghỉ lễ, nghỉ tết

Pháp luật các nước hầu hết đều có quy định về ngày nghỉ lễ, tết cho người lao động. Tuy nhiên, việc quy định cụ thể ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử, phong tục tập quán, tôn giáo, điều kiện kinh tế... Trong khu vực Đông Nam Á, Brunei quy định nghỉ lễ, tết 8 ngày mỗi năm, Indonesia 14 ngày, Philippines 13 ngày, Malaysia 10 ngày, trong đó có 4 ngày pháp luật quy định và 6 ngày do người sử dụng lao động quyết định... ở những nước phát triển, việc quy định số ngày nghỉ của mỗi dịp nghỉ lễ, tết thường dài hơn những nước khác, ở Việt Nam, người lao động được nghỉ 11 ngày lễ, tết (tết dương lịch 1 ngày, âm lịch 5 ngày, ngày Chiến tháng 30/4 1 ngày, ngày Quốc tế lao động 1 ngày, ngày Quốc khánh 2 ngày, ngày Giỗ tổ Hùng Vương 1 ngày) nếu trùng vào ngày nghỉ hàng tuần thì người lao động được nghỉ bù vào ngày tiếp theo (Điều 112 Bộ luật lao động năm 2019). Đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, họ còn được nghỉ thêm 01 ngày tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày quốc khánh của nước họ và được hưởng nguyên lương.

5. Nghỉ vì việc riêng, nghỉ không hưởng lương

Nghỉ vì việc riêng là quy định của Nhà nước cho phép người lao động được nghỉ việc nhằm giải quyết tình cảm cá nhân hoặc việc gia đình của họ. Nghỉ vì việc riêng bao giờ cũng dựa trên cơ sở đề nghị của người lao động và chỉ trong trường hợp giải quyết việc hiếu và giải quyết việc hỉ và được hưởng nguyên lương, cụ thể: bản thân kết hôn được nghỉ 3 ngày; con kết hôn được nghỉ 1 ngày; bố, mẹ (cả bên vợ và chồng và cha nuôi, mẹ nuôi) chết, vợ hoặc chồng chết, con chết được nghỉ 3 ngày (khoản 1 Điều 115 Bộ luật lao động năm 2019).

Người lao động được nghỉ không hưởng lương 01 ngày và phải thông báo với người sử dụng lao động khi ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị, em ruột chết, bố hoặc mẹ kết hôn, anh, chị, em ruột kết hôn. Ngoài ra, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ không hưởng lương.

6. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với một số công việc có tính chất đặc biệt

Do tính chất và yêu cầu riêng của một số công việc, nghề nghiệp nhất định dẫn đến nhu cầu không thể áp dụng chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi như quy định chung. Vì vậy, pháp luật cũng có những quy định riêng về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi nhằm đáp ứng tính chất, yêu cầu của công việc, nghề nghiệp và đảm bảo được mục đích bảo vệ người lao động. Theo đó, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người làm công việc có tính chất đặc biệt như: vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không; thăm dò khai thác dầu khí trên biển; trong các lĩnh vực nghệ thuật; sử dụng kĩ thuật bức xạ và hạt nhân, ứng dụng kĩ thuật sóng cao tần; công việc của thợ lặn; công việc của thợ mỏ hầm lò; các công việc sản xuất có tính thời vụ và các công việc gia công hàng xuất khẩu theo đơn đặt hàng; các công việc phải thường trực 24/24 giờ thì các bộ, ngành trực tiếp quản lí các công việc trên quy định cụ thể thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi sau khi thoả thuận với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)