1.Bảng tổng hợp về đăng ký biện pháp bảo đảm

TT

Biện pháp bảo đảm

Cơ quan đăng ký bảo đảm

1

Thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất; dự án đầu tư xây dựng nhà ồ, nhà ồ hình thành trong tương lai; quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mua bán nhà ỗ

Chi nhánh Ván phòng đàng ký đất đai và Vãn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường

2

Thế chấp tàu biển

Cục hàng hải hoặc Chi cục Hàng hải, Cảng vụ hàng hải

3

Thế chấp, cầm cố tàu bay

Cục Hàng không Việt Nam

4

Cầm cố chứng khoán

Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

5

Thế chấp động sản và các tài sản khác

Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản - Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm

Như vậy, mặc dù đã có Cục Đăng ký quôc gia giao dịch bảo đảm, nhưng việc quy định và thực hiện đáng ký giao dịch bảo đảm nói riêng, đăng ký biện pháp bảo đảm nói chung còn rất phân tán và thiếu thống nhất trong nhiều đạo luật như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Đất đai, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Nhà ở. Việc thống nhất, chỉ có thể được giải quyết bằng một đạo luật thống nhất về đăng ký biện pháp bảo đảm.

2. Quy định chung về biện pháp bảo đảm 

Luật Đất đai cũ trước đây đã từng có sự nhầm lẫn lổn khi quy định, việc nộp hồ sơ đăng ký thế chấp phải được thực hiện trong thời hạn không quá 5 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng tín dụng. Còn hiện nay, pháp luật không quy định thời hạn phải đăng ký giao dịch bảo đảm, nhưng thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm cũng là thời điểm có hiệu lực của biện pháp bảo đảm trong một số trường hợp như thế chấp quyền sử dụng đất và là thời điểm có hiệu lực đối kháng đối với người thứ ba trong trường hợp thứ tự ưu tiên thanh toán được tính theo thứ tự đăng ký biện pháp bảo đảm.

Ngoài ra, pháp luật không quy định rõ, nhưng qua quy định về yêu cầu nộp hồ sơ đăng ký thế chấp thì được hiểu rằng, trong trường hợp pháp luật quy định biện pháp bảo đảm bắt buộc phải thực hiện cả hai thủ tục là công chứng, chứng thực và đăng ký bảo đảm, thì việc công chứng, chứng thực phải được thực hiện trước khi đăng ký bảo đảm.

Việc đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch và tài sản thuộc Cục đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp, tuy rất nhanh chóng, thuận tiện, nhưng ý nghĩa, tác dụng còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là việc đăng ký thế chấp hàng hoá, không bảo đảm cơ sở pháp lý cũng như thực tế khi phải xử lý tài sản bảo đảm, nhất là trường hợp nhiều tổ chức tín dụng cùng nhận thế chấp một lô hàng, kho hàng cùng loại. Bên thế chấp được quyền đương nhiên bán hợp pháp, kể cả trường hợp vi phạm thỏa thuận về việc bán phải có sự cho phép của bên nhận thế chấp. Do đó nguyên tắc thứ tự ưu tiên thanh toán theo quy định của Bộ luật Dân sự khi áp dụng vào thực tế thì là cả một câu chuyện muôn phần rắc rôì, bất phân thắng bại trong nhiều trường hợp. Điều này được bộc lộ qua một loạt vụ việc, với sự tham gia của hàng chục ngân hàng tranh chấp tài sản thế chấp là hàng hóa luân chuyển, với giá trị hàng ngàn tỷ đồng, trong các năm 2010-2013.

3.Ví dụ về biện pháp đảm bảo 

Ví dụ, Công ty trách nhiệm hữu hạn Chế biến thủy sản A, thành phố cần Thơ, thế chấp hàng hóa tồn kho luân chuyển là cá tra và chả cá đông lạnh trong hai kho hàng, để vay 350 tỷ đồng vốn lưu động trong thời gian năm 2010-2011.

Trong vụ này có 5 ngân hàng cùng nhân thế chấp hàng hoá, nhưng cuối cùng không ngân hàng nào được quyền ưu tiên thanh toán, vì tài sản thế chấp đã bị gán nợ cho các hộ gia đình bán cá tra nguyên liệu cho Công ty A. Hay vụ Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghiệp thương mại s, thành phố H, vay 1.312 tỷ đồng tại 13 tổ chức tín dụng, thế chấp lô hàng 1.200 tấn thép cho 12 ngân hàng trong năm 2012, cũng gần như không xác định được quyền ưu tiên đối với tài sản thế chấp.

Trường hợp pháp luật không quy định bắt buộc phải đăng ký biện pháp bảo đảm, tuy nhiên nếu vẫn thực hiện đăng ký thì được quyền ưu tiên thanh toán, trừ trường hợp tính thứ tự ưu tiên theo nguyên tắc khác.

VD: A vay B số tiền 10.000.000 đồng và A giao cho B chiếc xe gắn máy để cầm cố (xe gắn máy có thể là của A hoặc của bên thứ 3). Nếu đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà A chưa thể trả tiền cho B thì B có thể xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thỏa thuận với A.

- Thế chấp tài sản (Điều 317 Bộ luật dân sự 2015): là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp).

VD: A đang cần số tiền 300 triệu đồng nhưng không có cách xoay sở số tiền trên. Do đó A thế chấp căn nhà của mình (trị giá 2 tỷ) cho Ngân hàng để có số tiền mong muốn. Việc thế chấp căn nhà được thực hiện bằng cách A chuyển giấy tờ đứng tên A (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho Ngân hàng để đảm bảo về mặt pháp lý rằng: “Nếu A không có khả năng thanh toán khoản tiền đã vay trong một khoảng thời gian quy định thì Ngân hàng sẽ tiến hành phát mãi tài sản (căn nhà) đó”.

- Đặt cọc (Điều 328 Bộ luật dân sự 2015): là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

VD: A muốn mua ngôi nhà của B đang rao bán với giá 2 tỷ đồng, do vậy A đã giao cho B một khoản tiền 200 triệu đồng (tiền đặt cọc) để “giữ chỗ” cho việc mua nhà. Khi A và B tiến hành mua bán thì số tiền đặt cọc kể trên sẽ được khấu trừ vào tổng chi phí mua nhà. 

- Ký cược (Điều 329 Bộ luật dân sự 2015): là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản ký cược) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.

VD: A muốn thuê chiếc xe du lịch của B để đưa gia đình đi chơi, do vậy A phải giao cho B (bên cho thuê) một khoản tiền để đảm bảo việc trả lại chiếc xe đó.

- Ký quỹ (Điều 330 Bộ luật dân sự 2015): là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản phong tỏa tại một tổ chức tín dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.

VD: A là bên mua nhà và B là bên bán. Dẫu vậy, B vẫn lo ngại A không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như thanh toán toàn bộ số tiền cho B khi thực hiện giao dịch. Do đó, cả A và B đi đến thống nhất sẽ chỉ định một tổ chức tín dụng làm bên thứ ba có nhiệm vụ: Mở tài khoản để giữ một số tiền đảm bảo riêng cho giao dịch, nhằm mục đích buộc các bên phải thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản, quyền và nghĩa vụ đã được quy định trong hợp đồng.

- Bảo lưu quyền sở hữu (Điều 331 Bộ luật dân sự 2015): Theo đó, trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.

VD: A mua xe máy trị giá 20 triệu đồng nhưng A không có tiền trả ngay, do vậy hai bên thỏa thuận rằng A sẽ thực hiện trả trong nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định trong hợp đồng, nếu A không thực hiện đầy đủ thì bên bán có quyền đòi lại tài sản.

- Bảo lãnh (Điều 335 Bộ luật dân sự 2015): là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.

VD: A thỏa thuận với B sẽ bảo lãnh cho C vay số tiền 1 tỷ đồng. Theo thỏa thuận này, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà C không trả tiền, thì B có quyền yêu cầu A thực hiện thanh toán toàn bộ 1 tỷ đồng thay C. 

- Tín chấp (Điều 344, 345 Bộ luật dân sự 2015): Theo đó có thể hiểu rằng vay tín chấp là việc cho vay mà một phần hoặc toàn bộ giá trị vay mà không có bảo đảm bằng tài sản tương ứng, phần đó do bên cho vay tín nhiệm (tin) vào việc bên vay sẽ thực hiện đúng cam kết của mình. 

4.  Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong thực hiện biện pháp bảo đảm

Điều 4 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định việc áp dụng pháp luật và thỏa thuận về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:

- Trường hợp pháp luật về đất đai, nhà ở, đầu tư, doanh nghiệp, chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài nguyên thiên nhiên, thủy sản, lâm nghiệp, hàng không, hàng hải, sở hữu trí tuệ, khoa học và công nghệ hoặc lĩnh vực khác có quy định đặc thù về tài sản bảo đảm, xác lập, thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc xử lý tài sản bảo đảm thì áp dụng quy định đặc thù đó.

Trường hợp bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ được bảo đảm bị tuyên bố phá sản thì việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản, xử lý khoản nợ có bảo đảm và các biện pháp bảo toàn tài sản áp dụng theo quy định của pháp luật về phá sản.

- Trường hợp các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có thỏa thuận khác với quy định tại Nghị định số 21/2021/NĐ-CP mà phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, không vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, không vi phạm giới hạn việc thực hiện quyền dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên.

- Trường hợp chủ sở hữu tài sản và bên nhận bảo đảm thỏa thuận dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác thì áp dụng quy định về cầm cố tài sản, thế chấp tài sản.

- Trường hợp thỏa thuận có nội dung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng các bên không xác định rõ hoặc xác định không chính xác tên biện pháp bảo đảm mà nội dung thỏa thuận phù hợp với biện pháp bảo đảm quy định tại Bộ luật Dân sự thì áp dụng quy định về biện pháp bảo đảm tương ứng với nội dung thỏa thuận này.

5. Có hai loại xác nhận liên quan đến giao dịch bảo đảm

Ngoài ra, một số trưồng hợp không công chứng, chứng thực và đăng ký biện pháp bảo đảm mà là làm thủ tục xác nhận, phong tỏa biện pháp bảo đảm. Có hai loại xác nhận liên quan đến giao dịch bảo đảm:

Thứ nhất, xác nhận bắt buộc với yêu cầu pháp lý tương tự như thủ tục công chứng, chứng thực. Chẳng hạn trước đây đã từng phải thực hiện quy định, cơ quan quản lý tài chính vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp tiến hành xác nhận cho doanh nghiệp nhà nước thuộc mình quản lý các bảng danh mục tài sản do doanh nghiệp lập mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý cần thế chấp, cầm cố để vay vốn tại tổ chức tín dụng;

Thứ hai, xác nhận mang tính chất hỗ trợ thêm. Đó là trong trường hợp nhận cầm cố thẻ tiết kiệm thì bên nhận cầm cố có quyền yêu cầu tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm phong tỏa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của bên cầm cố.

Bảng tổng hợp về việc xác nhận một số loại giao dịch bào đàm

TT

Giao dịch bảo đảm 

Nơi xác nhận

1

cầm cố tiền trong tài khoản

Tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ tài khoản

2

Cầm cố thẻ tiết kiệm

Tổ chức tín dụng nhận tiền gửi

3

Cầm cố chứng khoán

Trung tâm lưu ký chứng khoán

4

Cầm cố giấy tồ có giá khác

Đơn vị phát hành giấy tờ có giá

5

Thế chấp quyền đòi nợ

Đơn vị có nghĩa vụ thanh toán

 

Cùng với việc đăng ký là việc thay đổi và đăng ký xoá đăng ký biện pháp bảo đảm. Việc xoá đăng ký biện pháp bảo đảm trong một số lĩnh vực được thực hiện theo quy định riêng. Chẳng hạn như xoá biện pháp bảo đảm bằng chứng khoán được thực hiện theo thỏa thuận của hai bên, theo yêu cầu của một bên hoặc theo yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự.